Cánh gà nướng chao - Uyên Thy /18:33
Labels
- ÂM NHẠC (7)
- BÀI VIẾT (121)
- GIA CHÁNH (190)
- HÌNH ẢNH (204)
- LÀM ĐẸP (10)
- LỊCH XUÂN (4)
- LỜI CỔ NHẠC (8)
- MẸ0 VẶT (32)
- MỤC LỤC LINKS (1)
- NGÂM THƠ (8)
- PHÂN ƯU (6)
- PHIM TRUYỆN (58)
- PHÓNG SỰ (80)
- PPS (148)
- SỨC KHOẺ (286)
- SƯU TẦM (549)
- THƠ (414)
- THỜI TRANG (3)
- TỒNG KẾT (1)
- TRUYỆN NGẮN (221)
- TUỲ BÚT (3)
- VĂN NGHỆ (40)
- VIDEO (9)
- VIDEO HÌNH (2)
- VUI CƯỜI (47)
- YOUTUBE (217)
Friday, 4 March 2016
LỤC BÌNH TUYỆT VỜI TRONG THỦ CÔNG NGHỆ
Cùng Trãi Nghiệm Đan Lục Bình /25:34
LỤC BÌNH TUYỆT VỜI TRONG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
Có lẽ khắp vùng sông nước Nam bộ là xứ sở của hoa lục bình. Hầu như lục bình nở hoa suốt bốn mùa. Kể cả mùa lũ, nước dâng tràn đồng đất, phù sa đục ngầu, lục bình vẫn vươn xanh và nở hoa. Nhưng vào kỳ cuối đông và mùa xuân là mùa hoa lục bình nở rộ. Nhìn hoa nở, bỗng gợi trong tâm tưởng du khách câu ca: Lục bình hoa tím lung linh/ Đời theo con nước lênh đênh sớm chiều...
Mấy năm gần đây, mỗi khi thấy hoa lục bình rộ nở, người dân vùng sông nước Nam bộ lại khấp khởi mừng, vì thiên nhiên lại ban tặng cho họ nguồn nguyên liệu để làm ăn. Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long không còn coi lục bình là cây hoang dại nữa, mà đã trở thành nguồn nguyên liệu cho sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ cọng lục bình. Nghề này đang "phất", vừa tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình, giải quyết việc làm khi nông nhàn, vừa góp phần giải quyết vấn nạn môi trường ở vùng sông nước.
Từ lâu, dù cây lục bình dễ sinh sôi, phát triển, ở đâu cũng có, hoa đẹp đến thế, nhưng vẫn bị coi là thứ "bèo dạt mây trôi", ít được khai thác, sử dụng có hiệu quả. Nhiều nơi còn coi lục bình là "họa môi trường", gây tắc vướng cho giao thông đường thủy, cản trở dòng chảy trên kênh rạch, vớt lên chất thành đống chẳng biết làm gì, thêm ô nhiễm môi trường. Ấy vậy mà từ năm 2000 đến nay, đã 7 năm rồi, các sản phẩm được đan lát từ cọng lục bình lại trở thành hàng xuất khẩu có giá trị, được thị trường nhiều nước ưa chuộng. Một tài liệu của ngành nghiên cứu thực vật tại trường Đại học Cần Thơ chỉ ra rằng: Lục bình, tên khoa học là Eichlornia crasspes (Ponterediaceae). Loại này ở miền Bắc và miền Trung gọi là bèo tây, bèo Nhật Bản, nhưng không tươi tốt, cọng không dài và cứng bằng lục bình vùng sông nước Nam bộ. Loài cỏ thủy sinh tưởng như chỉ là thứ bỏ đi ấy, nay trở thành "cây xóa đói giảm nghèo" ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn người, lại thu nhiều lợi nhuận qua xuất khẩu. Các thứ phẩm như gốc, rễ, lá cây lục bình đem lại nhiều lợi nhuận, có chất lượng và hiệu quả kinh tế khá cao cho nghề sản xuất nấm rơm và làm phân bón hữu cơ.
Người đầu tiên bỏ công nghiên cứu biến cây lục bình từ loài cỏ dại trên sông nước thành các sản phẩm xuất khẩu chính là ông Triệu Vĩnh Thịnh, ngụ tại đường Tết Mậu Thân, phường 4, thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang). Ông Thịnh là chủ cơ sở sản xuất tiểu- thủ công nghiệp Vĩnh Thịnh, chuyên đan, bện các sản phẩm gia dụng từ bẹ chuối, lác, cói để xuất khẩu. Đầu năm 2000, ông Thịnh gửi một số sản phẩm tí hon được bện từ cây lục bình ra thị trường nước ngoài để thăm dò thị hiếu người tiêu dùng ở thị trường nước ngoài. Do tính hơn hẳn của cây lục bình, khách hàng nước ngoài bắt đầu biết đến cơ sở Vĩnh Thịnh, họ đặt ông làm ra nhiều chủng loại hàng thủ công mỹ nghệ. Đến nay, cơ sở Vĩnh Thịnh đã sản xuất ra các sản phẩm như chụp đèn ngủ, đệm lót ghế ngồi, chiếu, thảm, giỏ xách, tủ nhà bếp, dép dành mang trong phòng ngủ. Nếu đôi dép bện bằng bẹ chuối khô trước đây đã có nhiều ưu điểm so với các loại dép khác, thì đôi dép làm bằng cọng lục bình càng làm cho khách hàng nước ngoài thích thú hơn tác dụng của nó mang lại. Đó là người mang dép lục bình cảm thấy mềm mại, nhẹ tênh. Đối với quý bà thì đôi dép lục bình còn có ý nghĩa bảo vệ bàn chân đẹp trong lúc sinh hoạt trong nhà... Các sản phẩm được đan, bện từ cọng lục bình ngày càng tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hà Lan, Đức, Nga. Giá các sản phẩm mới này từ 6 đến 18 đô-la một cái. Hiện cơ sở Vĩnh Thịnh thu hút hơn 2.300 lao động, phần lớn là nữ, con em của các gia đình nghèo khó. Doanh số xuất khẩu mỗi năm khoảng 1,2 triệu USD. Chỉ từ những chiếc chiếu, chiếc đèn ngủ, tủ bếp, dép đi trong nhà, tấm thảm... làm từ lục bình, bẹ chuối, mỗi năm đã đem về cho cơ sở thủ công mỹ nghệ "Vĩnh Thịnh" của ông Triệu Vĩnh Thịnh cả triệu đô la.
Ông Thịnh kể:
-- Có lẽ tôi có duyên với những loại cây dân dã này. Trước khi đến với lục bình, tôi đã "kết bạn" với cây chuối. Nhìn những bẹ chuối bị vứt bỏ, tôi thấy tiếc lắm. Phải làm gì đó để khỏi phí hoài "mỏ bẹ chuối" trời cho. Rồi tôi thử lấy sợi của bẹ chuối để làm giỏ xách. Sau chiếc giỏ xách, hàng loạt sản phẩm bằng bẹ chuối khác như: võng, giày dép, ghế ngồi... lần lượt ra đời...Bây giờ cơ sở thủ công mỹ nghệ của tôi lại chủ yếu làm ra những mặt hàng xuất khẩu từ cọng lục bình. Sản phẩm thủ công muốn cạnh tranh và xuất khẩu được không chỉ đẹp về hình thức mà chất lượng phải tốt. Chẳng hạn những đôi giày làm bằng nguyên liệu lục bình vừa nhẹ, vừa mát mà còn có tác dụng về mặt y học nên khách hàng rất ưa chuộng. Hay như chiếc võng làm từ bẹ chuối và cọng lục bình có tác dụng hút nhiệt nên người nằm áo không bị dính mồ hôi... Để có được những sản phẩm này, công đoạn xử lý nguyên liệu là quan trọng nhất. Lục bình vớt từ dưới sông lên hoặc trồng phải có độ dài tối thiểu 50cm, gốc phải trắng, không dính phèn. Trước khi đem phơi khô phải cắt bỏ toàn bộ rễ, lá sau đó mới sơ chế. Nhu cầu về mặt hàng thủ công từ bẹ chuối, lục bình còn rất lớn...
Ở Tiền Giang còn có một số hợp tác xã (HTX) thủ công mỹ nghệ đã giàu lên nhờ sản xuất hàng hóa từ cọng lục bình. Như HTX Quang Minh làm ăn cũng không kém cơ sở Vĩnh Thịnh. Ông Cao Dũng Khanh, Chủ nhiệm HTX Quang Minh, cho biết: HTX sớm thành công là nhờ sản phẩm lục bình đang được khách hàng nước ngoài ưa chuộng. Bên cạnh đó, HTX đẩy mạnh việc quảng bá sản phẩm ra thị trường nước ngoài thông qua các kỳ hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ trong và ngoài nước như hội chợ Giảng Võ (Hà Nội), hội chợ Megashow (Hongkong), hội chợ Nam Ninh (Trung Quốc), hội chợ Paris (Pháp), hội chợ Frankfurt (Đức)...
Bà Huỳnh Ngọc Bích, Chủ nhiệm HTX thủ công mỹ nghệ Ngọc Bích (Sóc Trăng), kể lại rằng tiền thân của HTX chỉ là cơ sở sản xuất các loại giỏ nhựa để cung ứng cho các chợ khu vực ĐBSCL đựng cá, tôm. Rồi trong một chuyến đi tham quan, khảo sát thị trường hàng thủ công mỹ nghệ TP HCM, bà Bích phát hiện ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu lục bình, bẹ chuối đang thu hút khách hàng, trong khi đó địa phương có nguồn nguyên liệu này rất nhiều. Từ đó, bà quyết định thành lập HTX, tập hợp lao động đào tạo nghề đan đát lục bình. Với đội ngũ lao động cần cù, khéo léo và cùng với hỗ trợ vốn của Ngân hàng chính sách xã hội đầu tư mua nguyên liệu sản xuất, HTX Ngọc Bích nhanh chóng phất lên. Sản lượng sản phẩm của HTX đều được bao tiêu. Hiện nay, ngoài tỉnh Sóc Trăng, HTX Ngọc Bích còn phát triển các vệ tinh nghề đan đát lục bình, bẹ chuối ra những tỉnh lân cận như Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang... Số lao động từ khoảng 200 người ban đầu, nay đã tăng lên trên 4.000 lao động. Bà Huỳnh Ngọc Bích nói: "Nhờ nghề đan đát lục bình, bẹ chuối mà nhiều hộ giảm được nghèo và có vốn tích lũy từ ít lên nhiều. Hy vọng, trong tương lai HTX Ngọc Bích sẽ phát triển hơn nữa để giải quyết việc làm cho người lao động nhiều hơn".
Mấy năm gần đây, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu được làm bằng nguyên liệu lục bình, bẹ chuối ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phát triển rất mạnh. Hiện nay, hầu như tỉnh, thành nào trong khu vực cũng đều có sản phẩm này. Bởi không chỉ tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có của thiên nhiên, mà còn đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể và góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.
Trước đây, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở ĐBSCL chủ yếu là từ mây, tre, trúc nhưng nay đã nhường chỗ cho mặt hàng được làm bằng lục bình, bẹ chuối... Từ các nguyên liệu này, qua bàn tay khéo léo của người thợ trở thành các sản phẩm đẹp mắt như giỏ xách, giỏ đựng rượu, thảm, các kệ, tủ, bàn ghế... Hiện nay, các "sản phẩm thân thiện với môi trường" này đang được khách hàng nước ngoài ưa chuộng.
Năm rồi, doanh nghiệp tư nhân Dạ Lý Hương ở quận 2 (thành phố Hồ Chí Minh), khách hàng của một số cơ sở thủ công mỹ nghệ vùng Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp đã xuất ủy thác qua Công ty Haprosimex Saigon sang châu Âu lô hàng hơn 4.500 giỏ xách đan bằng cọng lục bình và bẹ chuối trị giá gần 16.000 USD. Lô hàng gồm ba mẫu giỏ mới do Dạ Lý Hương thiết kế kết hợp giữa cọng lục bình và chuối, thêm các nguyên liệu như da, vải, vỏ ốc cho quai xách, trang trí hoa văn, lớp lót giỏ đã được khách hàng nhiều nước đặt mua với số lượng lớn. Thông qua Haprosimex Saigon, mỗi tháng Dạ Lý Hương xuất các mặt hàng giỏ xách cọng lục bình, bẹ chuối sang châu Âu trị giá 15.000 - 40.000 USD.
- Lục bình nhiều vậy, vớt hoài cũng hết, rồi lấy đâu để dùng?
Ông Hai cười:
- Cái gì nhiều đến mấy, người khôn của khó, riết rồi cũng hết. Nhưng cây lục bình sinh sôi, phát triển nhanh lắm, ven sông này như cánh rừng nổi. Hiện nay mới khai thác thì thấy còn nhiều, nhưng nhiều người, nhiều nơi khai thác, rồi sẽ trở nên khan hiếm.
Ông Hai Thủy kể rằng, khi cấy nấm rơm trên vật rơm rạ, bã mía, ông làm vương mấy phôi mầm ( meo nấm) trên đám lục bình ven bờ kênh, thấy nấm rơm mọc nhanh, ông mừng lắm. Nhìn những đám lục bình trôi dề dề trên sông, ông Hai Thuỷ nảy ra sáng kiến dùng loại vật liệu sẵn có này để trồng nấm. Sau một thời gian loay hoay thử nghiệm, cuối cùng ông đã thành công trong việc trồng nấm rơm trên cọng lục bình khô. Do đặc tính của cây lục bình mọc dưới nước rất mềm, xốp, lại rất dẻo dai khi đem lên bờ phơi khô và giữ độ ẩm được lâu, rất phù hợp với tính ưa nước của nấm rơm. Nấm rơm trồng trên lục bình khô giảm được lượng nước tưới và số lượng meo nấm. Tính ra, năng suất nấm thu được tăng gấp bốn lần so với cách trồng nấm truyền thống trên rơm rạ. Chất lượng của nấm rơm được ủ bằng lục bình vượt trội hơn, loại nấm rơm này xem ra ngon hơn hẳn loại ủ bằng rơm rạ, nhất là về độ giòn và được xác định là rất giàu dinh dưỡng và không có độc tố. Theo ông Hai Thuỷ, từ 01kg lục bình khô có thể ủ được meo để cho ra 20.000 đồng tiền nấm rơm. Sau khi thu hoạch xong nấm rơm, xác lục bình sẽ tiếp tục được ủ để tạo thành phân hữu cơ bón cho cây trồng, cây phát triển rất tốt, được nhiều nhà vườn tìm đến mua loại phân này để bón cho cây. Vậy là từ loại cỏ thủy sinh hoang dại, thậm chí tưởng như có hại chomôi trường sinh thái, cây lục bình đã trở nên có ích, đem lại lợi nhuận kinh tế cho nhà nông.. Một công ty thực phẩm ở thành phố Hồ Chí Minh đã cho ông biết: Nấm rơm trồng trên cây lục bình cho cây to, thơm giòn, giàu chất dinh dưỡng, không độc tố. Ông Hai Thủy còn bật mí thêm:
-- Nấm rơm làm từ cây lục bình ít tốn kém hơn làm bằng rơm rạ. Thời gian giữ độ ẩm kéo dài, ít phải tưới nước, đỡ tốn meo. Nhưng việc tìm nguyên liệu ngày càng khó khăn hơn bởi cây lục bình ngày càng có giá trị về mặt kinh tế.
Cuối mùa nước nổi cũng là mùa cắt lục bình phơi khô đan thảm của bà con nông dân xã Bình Phước, huyện Mang Thít (Vĩnh Long) và các xã lân cận. Tại đây có hơn 50 gia đình sống bằng nghề đan thảm từ lục bình khô. Ngoài việc làm lúa thì đây là công việc tạo thêm thu nhập lúc nông nhàn. Một ký lục bình phơi khô bán được từ 7.000đ đến 9.000đồng. Một người có thể kiếm được cả chục ký lục bình nguyên liệu, thu nhập bình quân trên 70.000đ. Hiện nay, các địa phương khác ở Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp, Long An cũng rộ lên phong trào khai thác cây lục bình cắt cọng đem bán làm nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ, làm nấm rơm và ủ phân bón hữu cơ thay phân hóa học, năng suất cây trồng được nâng cao, môi trường ít bị ô nhiễm, chi phí đầu vào lại thấp, hạ giá thành sản phẩm, có thêm nhiều nguồn rau sạch, trái cây sạch.
Cây lục bình được coi là nguyên liệu quý và có giá trị cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và cả trong nông nghiệp, được coi là "khám phá mới của thế kỷ 21", vì nó được khai thác, sử dụng từ đầu mùa lũ năm 2000. Nếu chỉ dựa vào khai thác tự nhiên thì nguồn nguyên liệu này sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt. Ngành nghiên cứu thực vật, các cơ quan khuyến công, khuyến nông và các cơ quan hữu quan khác cần đầu tư nghiên cứu để có loại lục bình cọng dài, nhiều cọng, tăng độ dai, dẻo, bền, nâng cao sản lượng khai thác. Nên phổ biến việc trồng cây lục bình thành những vùng nguyên liệu bền vững, đồng thời bảo vệ, khai thác có kế hoạch, quản lý có hiệu quả nguồn cây lục bình trong thiên nhiên ở vùng sông nước Nam bộ.
Kim Chi Sưu Tầm
Wednesday, 2 March 2016
5 MÓN ĂN ĐẶC SẮC CỦA THÁI
5 MÓN ĂN ĐẶC SẮC CỦA THÁI
Từ
nhiều năm qua món ăn Thái Lan dần dần lấn sân các tiệm ăn người Hoa
trên khắp thế giới. Tâm lý sợ dầu mỡ tràn lan tại nhiều nước Tây phương
khiến các nền ẩm thực Đông Nam Á có cơ hội chinh phục người ăn khó tính
nhưng lắm tiền tại trời Tây, trong đó hai quốc gia đang được chú ý và
ngày càng chiếm nhiều khách ẩm thực phương Tây là Thái Lan và Việt Nam.
Nếu
Việt Nam có phở, bánh mì thịt thì các món ăn của Thái đa dạng và chiếm
cảm tình của người ăn nhiều hơn. Tại Mỹ, hầu như tiểu bang nào cũng có
nhà hàng Thái Lan và quán phở Việt Nam, tuy nhiên phải nhìn nhận rằng
món ăn Thái được người Mỹ chú ý nhiều hơn vì thích hợp cho cả buổi trưa
(lunch) và tối (dinner) trong khi phở của Việt Nam chỉ đơn thuần là một
món ăn trưa không thể thay thực đơn của buổi tối vốn được người Tây
phương xem rất quan trọng khi muốn đi ăn ngoài.
Món
ăn Thái đa dạng vì nguồn gốc của nó, Thái Lan có nhiều cửa ngõ ăn thông
với láng giềng và vì vậy văn hóa ẩm thực các nước du nhập vào Thái dễ
dàng. Cộng với bản chất dễ hòa đồng, người Thái dùng ẩm thực của người
khác chế biến lại thành của mình. Trong khi sáng tạo lại một món ăn,
người Thái luôn dùng gia vị truyền thống để món ăn “cũ người” trở thành
“mới ta” và dĩ nhiên là ngon hơn, đậm đà hơn món ăn gốc trước khi du
nhập vào Thái.
Miền
Bắc Thái Lan do giáp ranh với Miến Điện nên nhiều món được du nhập từ
nước láng giềng này và hai nền văn hóa Phật Giáo dễ dàng hòa nhập với
nhau trong cách nấu nướng và gia vị. Thái Lan giáp với Lào nên các món
Som Tam, hay Lạp qua tay của người Thái đã biến thể thành một món khác,
đậm đà và bắt mắt hơn.
Tại
miền Nam, giáp với Malaysia, Thái Lan thu nhận món cà ri của người Ấn,
Indonesia và chế biến lại với gia vị của mình để trở thành một món ăn mà
khi nói tới cà ri người ta phải nhớ như một dấu chỉ văn hóa uy tín với
vị cay nồng đến chảy nước mắt.
Gia
vị phổ biến của Thái là sả, riềng, và ớt. Hầu như món ăn nào của Thái
cũng có mặt ba thứ gia vị “chủ lực” này. Dĩ nhiên liều lượng gia vị từng
món được gia giảm cho phù hợp nhưng màu sắc, độ thơm của món ăn vẫn
mang đặc thù ba loại gia vị này.
Người
Thái làm các loại Paste từ riềng, sả và ớt là chính. Riềng, sả, cộng
với những gia vị phụ khác như hột ngò, me chín, bột nghệ, đinh hương,
gừng hay lá kaffir (hoặc lá chanh) giã nhuyễn và cuối cùng không thể
thiếu ớt khô ngâm nước sôi cho mềm rồi giã chung để lấy màu trong các
loại Paste. Có ba màu cà ri: xanh, vàng và đỏ, màu nào ớt nấy. Ớt xanh
hay ớt vàng thích hợp với các loại cà ri Massaman còn ớt đỏ thì dùng vào
cà ri truyền thống của vùng Đông Bắc Thái.
Người
Việt trong nước thời gian gần đây đã tiếp cận được với thức ăn Thái qua
các nhà hàng Thái tại Sài Gòn cũng như những chuyến du lịch ngắn ngày
sang Thái. Ban đầu còn chọn món ăn Tàu nhưng dần dần các nhà hàng Thái
đã chinh phục nhiều người Việt vì hạp với khẩu vị do gia vị độc đáo và
chủ yếu người Thái là không dùng mỡ heo hay quá nhiều dầu trong nấu
nướng.
1.Som Tam Thái
Hãy
thử bắt đầu với món Som Tam, món ăn chính của người Thái trong mọi bữa
tiệc lớn nhỏ, nó như món gỏi ngó sen khai vị của người Việt nhưng Som
Tam đậm đà hơn nhiều lần. Đu đủ bào, chanh, cà chua bi, đậu đũa, cà tím
loại nhỏ, ba khía, mắm tôm và đĩ nhiên là ớt.
Đu
đủ bào bỏ vào một cối đá và giã nhè nhẹ trong khi cho nước ba khía,
hoặc mắm tôm kiểu Thái vào đâm cho thấm nước vào sợi đu đủ. Tuần tự bỏ
hết các nguyên liệu vừa nói vào giã với nhau. Ba khía có thể bỏ nguyên
con vào đâm hay vớt ra bỏ vỏ tùy theo từng người. Tại Bangkok người ta
ít dùng ba khía nhưng những vùng khác nếu không có ba khía người Thái
không làm Som tam. Có lẽ là thủ đô nên khách ngoại quốc có thích Som Tam
tới đâu mà thấy ba khía là chạy thục mạng rồi nên người Thái tránh làm
ba khía bán ngoài nơi công cộng và thay vào đó là nước mắm chua ngọt hay
mắm tôm cho món này. Dĩ nhiên nếu bạn ăn Som Tam ngoài đường ở các xe
bán hàng lưu động thì không thể nào thiếu ba khía, có khi bạn còn thấy
người ta dùng mắm tôm thay cho ba khía.
Nói
tới nước mắm người Thái có lẽ là dân tộc duy nhất trên thế giới ăn nước
mắm tương đương với... Việt Nam. Vào bất cứ nhà hàng nào của Thái dù ở
quốc gia nào trên thế giới thì những hũ ớt mọng đỏ ngâm nước mắm không
bao giờ thiếu. Món ăn Thái không nêm nước mắm nhiều như Việt Nam nhưng
hương vị nước mắm bàng bạc trên bàn ăn người Thái cảm nhận rất rõ.
2.Pad Thái
Món
nổi tiếng khác của họ cũng rất bình dân là Pad Thai. Đây là hủ tiếu xào
xuất hiện đầu làng cuối ngõ và sẽ không bao giờ thiếu trong bất cứ một
nhà hàng nào của Thái.
Pad
Thai dùng hủ tiếu khô sợi lớn, Paste của nó là me chín, riềng, sả, ớt
đỏ cùng vài phụ gia khác được bán sẵn hầu hết ở các chợ tại Mỹ cũng như
tại Sài Gòn. Pad Thai có thể xào với gà hay tôm và dù với thịt gì nó
cũng phải kèm theo trứng chiên cắt sợi, giá sống, đậu phộng rang, vài
cọng hẹ và một lát chanh.
Khi
chảo nóng xào Pad Thai Paste cho thơm, tuần tự bỏ gà hay tôm vào, khi
chín cho Pad Thai khô đã ngâm nước vào đảo đều tay coi chừng dính cục
lại với nhau nếu lửa nhiều quá. Khi đã chín cho trứng đã chiên và cắt
sợi vào, nêm nước mắm và đổ ra dĩa. Bỏ giá sống một bên, đậu phộng rắc
lên trên, chanh và lá hẹ lên sau cùng.
Những
vật liệu tuy đơn giản như vậy nhưng khi hoàn thành mùi vị của nó sẽ
khiến chúng ta khó quên nếu so với hủ tiếu xào của Chợ lớn hay phở xào
của Sài Gòn thì Pad Thai có lẽ là đấu thủ cực kỳ lợi hại.
3.Lạp Thái
Thái
Lan còn có món Lạp danh tiếng được làm từ thịt gà hay bò. Thịt băm nhỏ
cộng với gia vị riềng, gừng. Một chút sả ớt băm nhuyễn, nêm nếm cho vừa
chua ngọt và cay. Xào nhanh tay không được chín quá, cho lên dĩa nặn
chanh, trộn thính vào cho khô, thêm đậu phộng rang lên mặt, rau húng lủi
(mint) vài lá nhưng cần thiết và không thể thiếu là bắp cải và đậu đũa
ăn sống đi kèm.
Món
Lạp lạ và khó quên ở hai loại “rau” đi kèm này. Đậu đũa và bắp cải nếu
ăn sống sẽ rất khó nhai, vậy mà khi đi chung với thịt băm nó như một dàn
giao hưởng của món ngon xứ Thái.
Món
Lạp có quyền cay nồng nhưng món Tom Yum nếu cay quá thì người nấu cứ ăn
cho hết một mình! Khi tới Thái bạn nên báo trước cho nhà hàng là mình
chỉ ăn cay ít thôi, cái ít của người Việt mình tương đương với cay trung
bình của Thái. Nói trung bình thôi vì không có sách vở nào cân độ cay
cho chuẩn với cái lưỡi từng người.
4.Tom Yum Thái
Tom
Yum là canh chua Thái, mà Việt Nam mình gọi là lẩu Thái. Đúng là có nơi
ở Thái cũng dùng chiếc lẩu đem món soup chua cay này ra bàn nhưng đa số
các tiệm ăn lớn đều mang ra bằng tô. Tom Yum có nhiều loại nhưng Tom
Yum Kung phổ biến nhiều nhất. Kung là con tôm lớn và người Thái rất
thích hải sản. Tom Yum rất đơn giản không như cách chế biến của người
Việt mình.
Nước
luộc gà, củ riềng cắt miếng. Sả đập dập vài cây, 5 lá kaffir hay thay
bằng lá chanh cũng được, nấm rơm búp cắt đôi, cà chua bi cắt dôi, tôm
làm sạch bỏ vỏ để lại đầu, nước cốt chanh, đường phèn hai trái ớt loại
nhỏ. Nước cốt dừa.
Tom
Yum Paste xào lên cho thơm, bỏ riềng cắt miếng vào, đổ nước cốt gà
(chicken broth) tính theo đầu người ăn. Đường phèn, muối, nước cốt chanh
bỏ vào nêm vừa ăn. Trước khi ăn 10 phút bỏ tôm, nấm, lá chanh, sả cây
vào. Trước khi bắt xuống bỏ cà chua bi và tôm vào. Thấy tôm chín đỏ vừa
tới là được.
Tom Yum ăn với bún hay cơm và nhớ là một chén nước mắm không pha và ớt chỉ thiên hay ớt hiểm cắt nhỏ.
5.Cơm Chiên Thái
5.Cơm Chiên Thái
Còn
một món “đinh” nữa đó là cơm chiên thơm, còn gọi là Pineapple fried
rice. Món cơm này dễ làm nếu biết kỹ thuật. Cơm trắng, carrot cắt hạt
lựu, đậu hòa lan, tôm salad loại nhỏ, thơm cắt hạt lựu, trứng chiên cắt
sợi và một trái thơm lớn.
Trái
thơm cắt dọc hai phần ba, khoét ruột ra hết, cắt một ít ruột thơm thành
hạt lựu. Cơm trắng nếu để thật nguội càng tốt chiên với chảo lửa thật
nóng, nhớ là cho thật ít dầu ăn, bỏ tôm và carrot đậu hòa lan vào, cho
thơm vào sau cùng. Nêm nếm vừa ăn. Khi cơm nóng đều xúc vào trái thơm đã
lấy ruột, bỏ trứng chiên cắt sợi lên trên, lấy giấy bạc bọc hết trái
thơm lại bỏ vào lò nướng với lửa 275 độ khoảng 10 phút là xong.
Đấy,
Thái Lan mê hoặc người ta bằng những món ăn xem đơn giản nhưng rất tinh
tế. Có thể nhận biết món ăn Thái ở tính chất đậm đà mùi và vị đặc
trưng, màu sắc hòa hợp bắt mắt. Tới Thái và biết chỗ ăn đúng món thì
trước sau gì cũng tới lần thứ hai, thứ ba mà xem!
TIẾNG VỌNG NGÀY MƠ ( Đỗ Thị Minh Giang )
Tiếng Vọng Ngày Mơ
Hoàng hôn mây tím về đâu
Cho tôi gởi mối duyên đầu ngày xưa
Dù che qua phố chiều mưa
Đôi bàn tay ấm cho vừa nhớ nhung
Hoàng hôn mây tím về đâu
Cho tôi gởi mối duyên đầu ngày xưa
Dù che qua phố chiều mưa
Đôi bàn tay ấm cho vừa nhớ nhung
Đêm nằm ôm giấc mộng cùng
Bao nhiêu thương nhớ tình chung đẹp vời
Hẹn hò mộng ước chung đôi
Đêm thanh trăng xoả bồi hồi tâm tư
Mai vào lớp học trao thư
Niềm thương cảm ngỡ như từ kiếp nao
Tóc bay nghìn sợi xuyến xao
Đôi tà áo quyện trôi vào Thiên Thai
Cười xinh hồng đẹp sớm mai
Lặng yên hè phố gót hài nhịp êm
Tình thơ mơ mộng dài thêm
Vòng tay lưu luyến dịu mềm trăm năm
Bóng người huyền ảo xa xăm
Nhạt màu hương phấn âm thầm lãng du
ĐT Minh Giang
19.02.2016
"NGƯỜI VỢ" LÀ MỘT VĨ NHÂN ( Tràm Cà Mau )
"NGƯỜI VỢ" LÀ MỘT VĨ NHÂN
- Có thời ông Tư thường hay đùa, trêu chọc bạn bè rằng: “Đời người đàn ông có hai lần sung sướng: Lần cưới vợ, và lần vợ chết. “Bây giờ vợ chết, ông mới ý thức được cái câu đùa nghịch đó vô cùng bậy bạ và bất nhân, không nên nói. Có lẽ anh chàng nào nghĩ ra câu nầy là kẻ độc thân, chưa có kinh nghiệm chết vợ. Ông ân hận và tự giận mình.
Sau khi chết vợ, ông như mất hồn, lãng đãng, trí óc để trên mây. Nhiều lần trên đường về nhà, ông đi lạc, lái xe qua khỏi nhà rồi mà không biết. Ngày xưa, ông hay bực mình mỗi khi được bà nhắc nhở đi lối nầy, quẹo góc kia, và bà cũng nổi nóng la nạt ông mỗi khi đi lạc đường. Bây giờ, mong được nghe lời cáu kỉnh gây gổ đó, mà không có được. Ông thở dài và đau nhói trong tim như có vật nhọn đâm vào. Không thể ngờ, vợ ông không còn trên đời nầy nữa. Bây giờ bà nằm ngoài kia, nghĩa địa hoang lạnh âm u. Không còn chầm chập kiểm soát từng hành động của ông để mà phê bình sửa sai.
Mở cửa, bước vào nhà, ông nói lớn như khi bà còn sống: “Em ơi! Anh đi làm về.” Trước đây, nếu không nghe tiếng trả lời, ông chạy vụt lên lầu tìm vợ. Bây giờ, ông lẳng lặng đến thẳng bàn thờ, thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy. Ông thầm nghĩ, người ta chỉ lạy vợ khi vợ đã chết rồi, tại sao không ai lạy vợ khi vợ còn sống? Dù có gây nên tội lỗi tầy đình, cũng không ai lạy vợ bao giờ.
Ông nhìn tấm hình màu, ảnh bán thân của bà, có nụ cười thật tươi, hai vành môi uốn cong, đôi mắt sáng tinh anh, có ánh tinh nghịch. Ông thấy bà còn đẹp lắm, nét đẹp dịu dàng. Thế mà bao nhiêu năm nay, ông không hề biết, và chưa một lần nhìn ngắm kỹ cái nhan sắc của vợ. Sống lâu ngày bên nhau, thấy nhau, nhưng quên nhìn ngắm, chỉ thấy hình thể tổng quát của nhau. Cũng như nhiều ông có vợ thiếu nhan sắc, cũng không bao giờ biết vợ họ xấu. Những ông lấy được vợ đẹp, lâu ngày, cũng chẳng còn biết vợ mình là đẹp. Nhiều bà đi xâm môi, xâm lông mày xong, về nhà, ông chồng cũng không hề biết có sự thay đổi trên mặt vợ.
Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ, để khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một mình.
Ông đã khóc như thế cả tháng mấy nay, mỗi lần đi làm về. Bước vào căn nhà vắng vẻ lạnh lẽo, không còn bóng dáng người vợ thương yêu, làm trái tim ông se sắt, tâm trí ông trống rỗng mịt mờ. Nỗi đau cũng tan dần theo giòng nước mắt, rồi ông thiếp đi trong một giấc ngủ buồn, ngắn. Khi thức dậy, ông nhìn quanh, đâu đâu cũng có bóng dáng, có kỷ niệm với bà. Tất cả đều còn đó. Vật dụng, đồ đạc của bà trước khi chết, vẫn còn để y chỗ cũ, giữ nguyên trạng. Ông không muốn thay đổi chuyển dịch gì cả. Trên bàn trang điểm, vẫn còn chiếc lược nằm nghiêng nghiêng, thỏi son dựng đứng, hộp phấn, những chai thuốc bôi tay cho mịn da, tất cả đều không xê dịch, không sắp xếp lại. Ông tưởng như hương tay của bà còn phảng phất trên từng món vật dụng.
Mỗi bữa ăn, không còn ai thúc hối, hò hét dục ông ngồi vào bàn ngay, sợ cơm canh nguội lạnh. Bây giờ, ông tha hồ lần lửa, không tha thiết đến bữa cơm. Có khi chín mười giờ mới bắt dầu ăn, qua loa cho xong, miệng nhạt phèo. Thường ông để thêm chén dĩa đũa muỗng đầy đủ cho bà. Rồi thì thầm mời vợ ăn, tưởng như bà còn sống, ngồi đối diện và cùng chia vui hạnh phúc trong từng giây phút của thời gian. Ông có ảo tưởng như bà còn ngồi đối diện, đang lắng nghe ông nói. Hôm nay bà làm biếng phê bình, không mắng trách khi ông làm rơi cơm canh ra bàn. Với cách đó, ông tự dối lòng, để có thể nuốt trôi những thức ăn, mà vì buồn chán, ông không còn cảm được hương vị ngon ngọt.
Nhiều khi thức giấc nửa đêm, vòng tay qua ôm vợ, ôm vào khoảng trống, ông giật mình thảng thốt, chợt hỏi thầm, bà đi đâu rồi? Khi chợt nhớ bà không còn nữa, nước mắt của ông chảy ra ướt cả gối. Có khi úp mặt khóc rưng rức, khóc cho đã, cho trái tim mủn ra, và thân thể rã rời. Chiếc giường trở thành trống trải, rộng thênh thang. Ông vẫn nằm phía riêng, bên kia còn để trống, dành cho bà. Ông ôm hôn cái gối, mùi hương của bà còn phảng phất gợi bao kỷ niệm của tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Khi không ngủ được, ông bật đèn nằm đọc sách, bây giờ ông không sợ ai cằn nhằn, ngăn cấm đọc sách giữa đêm khuya. Trước đây, nhiều khi ông tha thiết thèm đọc vài trang sách trước khi đi ngủ, mà vợ cứ cằn nhằn mãi, làm ông mất đi cái thú vui nầy. Bây giờ ông nhận ra vì thương chồng, sợ ngày hôm sau ông buồn ngủ, mệt, nên bà ngăn cản, bảo là chói mắt không ngủ được.
Ông tiếc, vợ chồng đã hay cãi vã những chuyện không đâu, chẳng liên quan gì đến ai, mà làm mất đi cái vui, cái hòa hợp của gia đình. Có khi chỉ vì tranh luận chuyện con khỉ bên Phi Châu, mà đi đến to tiếng, giận hờn, khóc lóc, làm vợ chồng buồn giận nhau, dại dột như hai đứa trẻ con ngu dại.
Tại sao phải gắt gỏng, đâu có được gì, mà làm nhau buồn. Bây giờ muốn nói lời ân hận, thì làm sao cho bà nghe được. Ông tự xét, ông là một con người tệ mạt, thiếu hiểu biết. Khi có hạnh phúc trong tay thì không biết trân trọng, để đến khi mất đi, mới ân hận, mà không còn kịp nữa.
Nếu được làm lại, ông sẽ đối xử với bà tử tế hơn, nói nhiều những lời êm ái dịu dàng. Sẽ không nổi giận khi bà làm chuyện ngang phè, sẽ nhường nhịn bà nhiều hơn, và sẽ phớt tỉnh mỗi khi bị bà chê bai, mai miả. Nhất là bày tỏ cái lòng ông, nói ông yêu thương bà, yêu thương lắm lắm. Đâu có gì ngăn trở, mà những ngày bà còn sống, ông không nói được những điều đó. Ông chợt nhớ có ngưòi viết rằng, vợ chồng phải đối xử như ngày mai thức dậy sẽ không còn nhau. Vì chẳng ai được sống mãi, và cũng không biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra trong giờ sắp tới, cho ngày hôm sau. Cuộc đời con người vốn bấp bênh trong định mệnh.
Lấy kinh nghiệm đó, nhiều lần nói với những người bạn mà vợ chồng còn được sống bên nhau, cho họ biết rằng, họ đang có hạnh phúc quý báu, nênhọ nên trân trọng giữ gìn, kẻo mai đây, khi chiếc bóng, thì tiếc thương cũng đã muộn màng. Đa số có lắng nghe, và tin lời ông là đúng, nhưng họ quên phứt ngay sau đó, và không thực hành điều hiểu biết.
Mẹ ông mất trước vợ sáu tháng. Ông cũng buồn, thương. Nghĩ rằng mẹ già thì chết là chuyện thường tình. Nhưng khi mất vợ, ông cảm thấy đau đớn và buồn khổ vô cùng tận. Buồn hơn mất mẹ mười lần. Ông tự cảm thấy xấu hổ, vì mất mẹ mà lại không đau buồn bằng vợ chết! Có phải ông đã thương vợ hơn thương mẹ chăng? Có phải ông là đứa con bất hiếu? Ông cũng không biết, và không so sánh được hai cái đau vì mất mát. Nhưng rõ ràng, ông đã ngã gục khi chết vợ
Có khi quẩn trí, ông muốn chết theo bà. Sao cuộc sống vô vị quá chừng. Rồi mai mốt cũng già, bệnh, đâu có thoát được cái chết. Chết bây giờ, nếu còn linh hồn, thì còn gặp lại vợ ngay. Nhưng ông sực nhớ nhiều lần bà nói không muốn gặp ông lại trong kiếp sau. Bà đâu có thù ghét ông mà nói câu đó nhỉ. Nói chi cho ông đau lòng lúc nghe, và còn đau cả đến tận bây giờ. Ông nghe nói, có một loài chim, khi một con chết đi, thì con kia ngày đêm kêu thương, bỏ ăn bỏ ngủ, than gào cho đến chết. Chim còn chung tình đến thế, mà ông thì còn sống, còn ăn, còn ngủ, còn đi làm, còn giữ tiền bạc. Chẳng bằng được loài chim sao?
Trong căn nhà nầy, đâu đâu cũng có dấu vết của bà. Mở tủ đựng ly chén ra, ông đứng nhìn xem, bên trong sắp đặt thứ tự, gọn gàng. Có những thứ mà bây giờ ông mới thấy, và không biết công dụng nó làm gì, khi nào thì dùng đến. Bà đã mua sắm, sắp đặt cẩn thận. Ông cầm một cái ly, biết vật nầy đã có bàn tay vợ đụng đến, ông ghé môi hôn, tưởng đang hôn bàn tay bà. Ba bộ ấm pha trà xinh xắn, bà mang về trong dịp đi du lịch bên Nhật, để cho ông thù tiếp bạn bè. Bà thương ông đến như vậy đó.
Hơn cả chục chai rượu nho, rượu mạnh trong tủ kiếng, cũng do một tay bà mua. Bà không biết uống, nhưng hễ nghe ai khen rượu ngon, rượu quý, thì bà cũng cố mang về cho chồng một vài chai. Ông thường dặn nếu không biết uống rượu thì đừng mua, vì khẩu vị của mỗi người khác nhau. Cũng như mình khen mắm nêm thơm ngon, nhưng cho Tây ăn, thì họ bịt mũi mà oẹ ra. Bây giờ đứng đây, đưa tay sờ vào những chai rượu màu nâu sẫm, lòng ông đầy ân hận, đáng ra lúc đó, ông phải nói những lời tử tế ngọt ngào cám ơn, và bày tỏ cái hân hoan với tình thương chăm sóc của vợ. Những khi đó, ông đã nói những lời chân thật như đất ruộng, làm phụ tấm lòng yêu thương của bà. Ông định nhấp vài hớp rượu để tưởng nhớ đến ơn vợ, nhưng rồi đặt chai xuống, và thì thầm hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Em ơi! lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?”Mắt ông cay cay, tim đập sai nhịp.
Tủ áo quần của bà còn nguyên vẹn đó. Những chiếc áo giản dị, màu sắc khiêm tốn. Bà phải chờ cho đến khi bán hạ giá thấp nhất mới dám mua. Bà cần kiệm, không dám hoang phí. Đi đám cưới, tiệc tùng, bà không cần phải thay đổi áo mới, kiểu nầy, kiểu kia. Bà nói: “Ngay cả ông chồng, còn chưa nhớ được kỳ trước mình mặc áo nào, màu gì, huống chi thiên hạ. Họ đâu có dư thì giờ mà vớ vẩn nhớ đến cách phục sức của cả trăm người trong bữa tiệc. Mà dù cho họ có nhớ đi nữa, cũng không sao, đâu có gì quan trọng. Chắc cũng chẳng ai chê mình không có áo quần mới khi tham dự tiệc tùng.” Cái đơn sơ giản dị chân thành của bà làm ông thương và mến phục.
Áo quần của ông, cũng do bà tìm tòi mua giúp. Khi thấy cái áo quần tốt, màu sắc trang nhã, giá cả tương đối được, bà hối hả kêu ông chạy gấp đến tiệm thử liền. Ngay cả áo quần lót, vớ, cà-vạt, cũng do bà mua cho ông. Bà đem áo quần đã cũ sờn vất đi, thay vào các thứ mới. Ông cứ tự nhiên dùng, chưa bao giờ biết kích thước đúng của chính ông. Đã có bà lo hết. Bây giờ không còn bà, ông mới thấy rõ ràng hơn những gì đã nhận được xưa nay mà vô tình không nghĩ đến. Cầm chiếc quần được lên lai trong tay, nhìn đường kim mũi chỉ cẩn thận, ông thấy rõ tình thương của bà gói ghém trong đó. Áo quần mùa đông, mùa hè của ông cũng được bà sắp xếp riêng từng ngăn cẩn thận. Bà đã cho giặt sạch, kỹ lưỡng trước khi được treo xếp vào ngăn tủ áo quần, để dành mặc vào mùa sau. Từ khi có bà trong đời, ông mất dần đi khả năng tự lo, tự lập mà ông vô tình không biết.
Ông nhớ những khi tham dự tiệc tùng, trong lúc ăn uống, khi có chút rau, thịt mắc vào kẽ răng, không dùng lưỡi cạy ra được, bà nhìn ông, biết ngay. Bà len lén mở ví, kín đáo chuyền tay cho ông một cây tăm bọc trong giấy. Ông xem đó như chuyện tự nhiên. Cũng có khi ông quay qua bà hỏi khéo: “Em còn cây tăm nào không?” Bà mở ví, đưa cho ông ngay. Trong lúc ăn, có món ngon vừa ý, bà thì thầm nhắc ông. Hoặc khi lấy thức ăn, bà chọn cho ông miếng ngon nhất. Những lúc đó, ông hơi ngượng, liếc mắt nhìn quanh bàn. Phần ông, thì cứ gắp đại, chưa bao giờ phân biệt miếng ngon, miếng dở. Gắp được cục xương không dính chút thịt cũng cứ vui. Trong bữa ăn, khi thấy ly nước của ông cạn, bà châm, thêm, ông hoàn toàn không quan tâm đến.
Bà biết rõ ông ưa thích món ăn gì, để mỗi ngày nấu nướng. Khi nghe ông khen món nào đó, thì hôm sau, bà nấu ngay cho ông ăn. Ông chỉ lờ mờ nhận ra hảo ý của bà, nhưng không biết nói một câu nịnh cho vui lòng vợ.
Nhiều lần ông bà rủ nhau đi du lịch xa, ông có nhiệm vụ lên mạng mua vé máy bay, đặt thuê khách sạn. Thế là xong. Phần bà lo cho tất cả các mục còn lại. Từ áo quần thường, áo lạnh, áo ngủ, đồ lót, vớ, giày phụ, dép, bàn chải răng, kem, kiếng phụ, tăm, thuốc cấp cứu, thuốc dùng ngừa bệnh, điện thoại di động, giây cắm điện thoại, máy hình, máy điện toán xách tay và các thứ phụ tùng cần thiết. Danh sách của bà đủ bốn mươi tám món. Bà cũng không quên mang theo một ít thức ăn khô, phòng khi lỡ đường. Nhiều khi thấy va-li căng kè, nặng nề, ông gào to: “Đi chơi chứ đâu phải là dọn nhà? Sao không mang theo cả cái tủ lạnh cho tiện.”
Một lần đi Âu Châu, cuộc đình công kéo dài, điện tắt và trời bão tố. Ông bà bình tâm nằm trong khách sạn, không chút nao núng, vì đã có sẵn một ít thức ăn khô mang theo. Thường trước khi đi, bà đọc kỹ và kiểm soát lại chuyến bay, lộ trình, các hãng đưa đón, khách sạn, ngày giờ của các tua du lịch. Bà bắt ông xuất trình giấy thông hành, căn cước, thẻ tín dụng, tiền bạc, kiểm soát lại từng chút một, để khỏi quên bất cứ vật gì. Ông cảm thấy khó chịu vì bị vợ xem như đứa trẻ con. Nhưng khi vợ mất rồi, ông đi xa mà để quên đủ thứ, nghĩ lại càng thương bà hơn.
Ông thường ham mê xem các trận đấu thể thao. Nhiều lần ông đang đi chơi với bạn, bà sợ ông bỏ mất trận đấu, kêu điện thoại nhắc nhở: “Anh nhớ chiều nay 5 giờ có trận chung kết bóng rổ đó nghe!” Ông cám ơn bà, và thu xếp về cho kịp giờ khai đấu.
Từ khi có gia đình, ông phụ thuộc quá nhiều vào vợ. Không có bà, ông như rơi xuống một vực sâu, tối tăm mù mịt, ngày tháng tẻ nhạt. Không gian và thời gian dường như thành trống rỗng.
Mỗi chiều tan sở, ông bâng khuâng không biết đi đâu, về đâu cho đỡ thấy quạnh hiu. Khi vợ còn sống, phải lo về ngay, không dám ngồi quán cà phê lai rai, về nhà vợ hạch hỏi không dám trả lời thật. Có khi ông điện thoại cho bạn, hỏi chiều nay ông đến chơi được không, và xin được ăn cơm tối. Bạn biết ông đang buồn, đơn lẻ, nên thường niềm nở chấp nhận. Nhiều lần, ông mua một vài món ăn ở tiệm, đem đến nhà bạn góp vào mâm cơm chiều và sau bữa ăn, uống trà, cà phê. Ngồi trong ghế bành, đôi khi không nói gì, cầm tờ báo lật qua lật lại, thế mà thấy bớt cô đơn trong lòng yên ổn. Rồi cũng phải về cho gia chủ đi ngủ. Ông ra xe, nỗi buồn lại dấy lên thấm thiá. Trời đất như rộng thênh thang. Đường về nhà hiu quạnh. Nghĩ đến căn nhà trống vắng, lòng ông rưng rưng.
Mỗi khi mở tủ lạnh tìm thức ăn, thấy trống không, chẳng có thứ gì ăn được. Vài ba cây trái đã đen điu rồi? rữa thối. Mấy bó rau đã đổi màu đen, khô quéo. Chai nước lọc cũng cạn. Không còn gì. Trong nhà không có bàn tay đàn bà, thì xem như chẳng còn có cái gì cả. Ông thầm thán phục những người bạn độc thân. Không biết làm sao họ có thể sống sót đến tuổi già, mà vẫn vui vẻ, yêu đời, nói cười. Họ đã làm gì cho tiêu tán quãng thời gian trống rỗng sau giờ tan sở nhỉ?
Như một thói quen, những chiều tan sở, ông chạy thẳng ra nghĩa địa, thơ thẩn bên mộ bà. Trong nghĩa địa hoang vắng nầy, ông thấy bớt cô đơn hơn là về nhà một mình. Cắm vài bông hoa, thắp nén hương. Rồi ngồi trò chuyện, như khi bà còn sống. Nói đủ thứ chuyện, nói nhiều hơn cả khi ông bà còn bên nhau. Ông độc thọai, và ông cứ tin ở dưới lòng đất, bà đang lắng nghe ông tâm sự. Khi có người lạ đi đến gần, ông hơi xấu hổ, nói nhỏ lại, chỉ thì thầm thôi. Ông sợ thiên hạ lần tưởng ông đau bệnh thần kinh. Rồi ông hát cho bà nghe. Hát những bài kỷ niệm, mà ngày trước, ông bà cùng song ca trong những buổi “Karaoke” tổ chức tại nhà bạn bè. Tai ông, vẫn còn văng vẳng giọng bà thánh thót hoà lẫn với tiếng hát trầm ấm trên môi ông. Ông hát từ bài nầy qua bài khác đến khô ran cả cổ. Nhiều khi ông nằm dài trên cỏ, bên tấm bia mộ ngang bằng, nhìn lên trời cao mênh mông và tưởng tượng có bà đang thân thiết nằm bên cạnh. Nghe được cả hơi thở của bà. Hơi thở có mùi hương quen thuộc của ngày nào. Ông thèm nghe vài lời cằn nhằn trách móc của bà.
Khi bóng đêm bắt đầu phủ xuống trên nghĩa địa, ông mới uể oải đứng dậy ra về. Ông nấn ná không muốn rời khu mộ, nhưng vốn yếu bóng viá và sợ ma, không dám ở lại khi đêm đen bao trùm khu nghĩa địa hoang vắng. Ông thì thầm: “Ngày mai anh sẽ đến thăm em.” Có những ngày chủ nhật, ông cứ mãi thơ thẩn quanh khu mộ. Ông nhận ra rằng, bây giờ ông yêu thương yêu vợ hơn nhiều lần khi bà còn sống. Tình cảm ông tha thiết, nồng nàn hơn xưa rất nhiều.
Mùa đông mưa dầm dề, gió thốc từng cơn trên nghĩa địa trống trải, ông trùm áo mưa, ngồi co ro run rẩy trong buốt giá bên mộ bà. Ngày nghỉ ông ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều. Tâm trí miên man mơ hồ vô định.
Chỉ mới một năm thôi, ông hốc hác, gầy rộc, vì mãi miết đắm chìm trong thương nhớ, khổ đau. Nhiều người khuyên ông nên đi bác sĩ tâm lý để điều trị, để tránh sa vào tình trạngsuy sụp trầm trọng.
Ông nghĩ, bác sĩ cũng không giúp gì được khi trong lòng ông thương nhớ bà. Bác sĩ không thể làm bà sống lại, không thể làm phép lạ cho ông quên buồn.
Một buổi sáng khi nắng vàng rực rỡ nhảy múa trên khu nghĩa địa, gió mát mơn man cỏ cây, tiếng chim kêu văng vẳng. Ông Tư rầu rĩ mang bó hoa hồng đến đặt lên mộ bà, định than vãn vài câu cho bớt nỗi buồn thương không dứt được trong lòng. Ông ngạc nhiên thấy một tờ giấy cuộn tròn trong bình đựng hoa. Ông giật mình, ô kià, lạ chưa, có nét chữ của bà. Ông mở tờ giấy ra đọc. Một bài thơ của ai chép tay chữ viết giống hệt nét chữ bà. Những chữ h, chữ g và cả cách đánh dấu hỏi ngã. Ông run run đọc:
“Đừng đứng khóc lóc bên mồ em. Bởi em đâu còn dưới đó nữa. Em đang là ngàn gió bay cao trên đồng nội, là ánh dương quang lóng lánh giữa biển trời. Em đang tắm trong mưa thu mát dượi. Em đang trên cao, ngàn sao của giải ngân hà. Và một sáng mai kia, tiếng chim đánh thức anh. Thì hãy biết đó là tiếng em kêu anh. Thôi đừng khóc bên mồ em, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau…”
Ông đọc đi đọc lại đến ba lần, và chợt nhớ ra đây là lời bản nhạc phổ từ bài thơ của bà Mary Elizabeth Frye viết trong cơn xúc động trên một mẫu giấy vụn. Trước đó bà Frye nẩy chưa hề bao giờ làm thơ. Bài thơ nầy về sau rất nổi tiếng, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, được phỏng dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau. Ông đã từng nghe trong các đám tang người Mỹ. Nhưng khi đó, ông chẳng hề để ý. Bây giờ được đọc lại, ông thấm thiá và ngộ ra: Đúng. Bây giờ bà đâu còn nằm dưới đó nữa. Bà đang ở trên miền cực lạc. Bà đang sung sướng trong một thế giới khác, không có khó khăn, vất vả, không giận hờn ganh ghét, không có chiến tranh giành giựt, và không phải “Đổ mồ hôi trán mới có được miếng cơm vào mồm.” Thế thì, tại sao lâu nay ông phải âu sầu thương tiếc khóc lóc. Ông đã tự làm khổ ông, tự đọa đày trong vũng đau thương. Nếu bên kia thế giới mà bà biết được ông khổ sở rầu rĩ như thế nầy thì bà vui hay buồn? Ông tự hỏi, ông đau đớn vì thương bà hay tự thương mình? Bà đang hưởng lạc phúc, thì ông phải mừng, chứ sao lại sầu khổ? Nếu ông tự thương mình, thì phải chống tay đứng dậy, làm cho ngày tháng còn lại nầy được vui vẻ, hạnh phúc và lành mạnh hơn là chìm đắm trong tối tăm mịt mù. Ông đến trước bia mộ và thì thầm: “Đúng, em đâu còn nằm dưới lòng đất nầy nữa. Thân xác là cát bụi phải về với cát bụi. Không còn là em nữa. Em đã bay cao với gió trên mây vàng long lanh, đang rong chơi nơi thiên đường cực lạc. Anh phải biết mừng cho em. Phần anh, phải đi nốt tháng ngày còn lại trên hành tinh nầy với những bước chân vững vàng, vui vẻ và hạnh phúc cho riêng mình. Đó là bổn phận cấp thiết đối với bản thân.”
Ông lái xe ra về, lòng nhẹ thênh thang. Con đường có nắng vàng reo vui, cây cỏ xanh ngắt yêu đời. Tiếng nhạc vui rộn rã vang vang trong xe, ông đã tìm được ý nghiã cho tháng ngày vắng bóng vợ. Ông tin rằng, nếu chết là chưa hết, chưa vĩnh viễn tan biến, thì ông sẽ gặp lại bà trong tương lai, ở một nơi an bình hạnh phúc hơn ở cõi trần thế nầy. Nhưng nếu chết là hết, là xong, thì cũng khỏe. Bà đã khoẻ, và mai đây ông cũng sẽ theo bước bà tan vào hư không.
Về nhà, ông ngồi vào bàn, lập một chương trình sinh hoạt mới cho ngày tháng còn lại. Trước đây ông không dám về hưu vì sợ cô đơn, sợ không có việc chi làm bận rộn rồi sinh ra quẩn trí mà phát bệnh. Nhưng bây giờ, ông đã có một chương trình năng động, phủ kín thời gian trong tuần, còn sợ không đủ thì giờ để thực hiện. Nhưng không sao, với ông thì thi hành được chừng năm mươi phần trăm cũng đã là thành công rồi.
Mỗi sáng ông dậy sớm, đi đến phòng tập thể dục, chạy bộ trên dây?, cử tạ, bơi lội, tập yoga, tắm nước nóng. Sau đó họp bạn già uống cà phê, bàn chuyện trời đất thời thế. Về nhà đọc vi thư bạn bè, giải quyết các công việc lặt vặt. Rồi ngủ ngay một giấc ngắn. Tự nấu nướng lấy, mặc dù có thể đi ăn tiệm, hoặc mua thức ăn về. Ông học cách nấu ăn trong liên mạng vi tính. Đọc bốn năm bài dạy khác nhau, rồi chọn lựa, kết hợp, tìm ra cách nấu hợp với khẩu vị mà ông nghĩ là ngon nhất. Từ đó, ông ghiền xem truyền hình dạy nấu ăn, Ông nấu được những món ngon tiếp đãi bạn bè.
Có một bà góa ỡm ờ đề nghị: “Anh nấu ăn ngon thế nầy, mà ăn một mình cũng buồn và uổng quá. Hay là nấu cơm tháng cho em đi, mỗi ngày tới bữa em đến ăn. Hôm nào anh bận, thì báo trước, em sẽ đi ăn tiệm.”
Ông cười lịch sự đáp: “Cám ơn chị quá khen và đề nghị. Xin cho tôi suy nghĩ lại, xem có đủ sức phục vụ chị không, rồi sẽ trả lời sau.”
Ông bóng bẩy nhấn vào hai chữ ‘phục vụ” làm bà kia đỏ mặt e thẹn. Ông không thể tưởng tượng nổi có người nào đó thay thế được vợ ông. Mỗi khi nói chuyện thân thiết với bà nào đó, mà trong lòng ông có dấy lên một chút cảm tình, thì ông thấy như mang tội với người vợ đã khuất, ông đã thiếu chung thủy. Cứ áy náy mãi.
Ông tham gia các chương trình du lịch xa, đi chơi trên du thuyền. Ông gặp nhiều bạn bè, đàn ông, đàn bà, cùng vui chơi. Tham dự các trò đùa tập thể trên du thuyền. Nhiều bà góa thấy ông cô đơn, nhắm muốn tung lưới bắt mạng, nhưng ông cũng đủ khôn ngoan để né tránh. Ông nói với bạn bè rằng, mình già rồi, khôn có lõi, không còn ngu ngơ dại dột như thời trai trẻ, để nhắm mắt chui đầu vào tròng.
Đôi khi ông cũng muốn có bạn gái, có chút chất “mái”, dù không làm gì được, nhưng mơ hồ thấy có sự thăng bằng nào đó trong tâm trí.
Ông đã cùng bạn bè tham gia các chuyến du lịch xa, Âu Châu, Ấn Độ, Phi Châu. Bây giờ còn đủ sức để đi, có điều kiện tài chánh thong thả, tham gia kẻo mai mốt khi yếu bệnh, khỏi luyến tiếc. Đi theo đoàn đông đảo bạn bè, thì giờ rất sát, eo hẹp, làm ông không kịp nghĩ, kịp buồn.
Trên du thuyền, gia đình người bạn giới thiệu bà Huyền cho ông, bà đẹp, duyên dáng, hơi trầm tư, đôi mắt mở to như khi nào cũng ngạc nhiên ngơ ngác, cánh mũi thon, môi hình trái tim chúm chím. Bà Huyền xa chồng đã hơn ba năm. Lòng ông Tư mơ hồ dấy lên chút cảm tình vì bà đẹp, hiền thục, ít nói. Mấy lần hai người ngồi gần nhau trong bữa ăn. Bà Huyền hé lộ một chút tâm sự riêng tư cho ông nghe, rằng bà may mắn chạy thoát đến Mỹ vào năm 1975, bà lặn lội thân cò nuôi chồng theo đuổi đại học trong bao nhiêu năm. Nhờ may mắn trong thương trường, tiền bạc có thời vô như nước. Gia đình vui vầy tràn đầy hạnh phúc. Rồi tai họa đổ xuống, chồng bà say mê một cô nhỏ tuổi hơn con gái ông, cô nầy làm công cho cơ sở thương mãi của gia đình. Ông chồng li dị bà để vui duyên mới. Bà nói rằng, chẳng trách gì ông, một phần cũng lỗi tại bà không phòng xa, để cho ông chồng và cô gái có dịp tiếp xúc thường xuyên. Lửa gần rơm thì phải cháy. Chia đôi gia tài, bà cho ông cơ sở kinh doanh, bà không cần làm nữa, tài sản có thể sống đến khi già chết.
Ông Tư cũng cảm mến bà Huyền vì cái giọng nói dịu dàng ngọt ngào, trái tim nhân áí, và tâm từ bi của bà cùng tấm lòng cao thượng. Khi nhắc đến ông chồng cũ phản bội mà không thù hận, không gay gắt giận hờn.
Bà Huyền biết kiên nhẫn lắng nghe, tôn trọng ý của người khác, dù có khi bất đồng quan điểm. Ông Tư cảm thương cho một người đàn bà biết điều như thế mà gặp phải hoàn cảnh không may. Cái tình cảm trong lòng ông đâm mầm nhú mộng êm ái. Đôi khi ông cũng giật mình, sợ trái tim ông yếu đuối, đổi cái quan hệ bạn bè với bà Huyền thành tình yêu. Ông không muốn mang mặc cảm phản bội bà vợ bên kia thế giới. Nhưng cũng là chuyện lửa gần rơm, mối giao hảo thân thiết của ông với bà Huyền càng ngày càng khắng khít. Đã có vài lần ông toan tính thổ lộ cho bà Huyền mối tình cảm chân thành của ông, nhưng rồi vốn nhát, nên lại thôi. Ông tự cười, đã chừng nầy tuổi, trên đầu tóc trắng nhiều hơn tóc đen, mà vẫn còn nhút nhát như thời mười sáu tuổi. Cuối cùng, chính bà Huyền đã mở đường dẫn ông vào cuộc tình già. Khi ông đi gần đến quyết định mời bà Huyền về sống chung, thì bạn bè can gián, cho ông biết bà Huyền là một trong ba người đàn bà nổi danh đanh đá độc ác nhất của thành phố nầy. Ai cũng biết, mà chỉ riêng ông Tư không biết mà thôi. Ông không tin một vài người, nhưng phải tin khi nghe nhiều người khác nói. Ông quyết tâm tìm hiểu, và vô tình gặp ông Duẫn là người chồng cũ của bà Huyền trong một buổi họp mặt. Ông lân la đến làm quen. Thấy ông Duẫn hiền khô, không rượu, không trà, không cả cà phê thuốc lá, và nói năng lịch sự dịu dàng. Bạn bè lâu năm của ông Duẫn cũng xác nhận anh nầy là một ‘ông Phật đất’. Hoàn toàn không hề có chuyện gian díu với một người đàn bà nào. Bà Huyền cũng không nuôi ông Duẫn một ngày trong đời như bà nói, bà đã đặt chuyện, cứ nói mãi, nên tin là có thật.
Ông Tư mạnh dạn hỏi thẳng Duẫn: “Anh nghĩ sao, nếu tôi cưới bà Huyền, vợ cũ của anh?”
Ông Duẫn gãi đầu, và nói ngập ngừng: “Ô… ô, không nghĩ sao cả. Đó là chuyện riêng của bà ấy với anh. Tôi không can dự gì. Chúng tôi đã li hôn lâu rồi. Tại sao anh hỏi tôi câu đó?”
Ông Tư hạ giọng: “Không phải tôi xin phép anh, mà tôi muốn hỏi ý kiến của anh về bà ấy. Nhận xét của riêng tôi, thì bà Huyền là một người đoan trang, trinh thục, hiểu biết, có trái tim nhân ái. Nhưng theo nhiều người khác thì đó là một trong ba bà ác độc nhất của thành phố nầy. Có thật vậy không?”
Ông chồng cũ của bà Huyền ngững mặt lên trời mà cười ha hả: “Khoan khoan, đừng nói thế mà tội cho người ta. Phần tôi, nếu không nói tốt cho bà ấy được, thì cũng không có quyền nói xấu. Tôi không dám có ý kiến gì cả. Có thể bà ấy không hợp với tôi, nhưng lại hợp với người khác. Có thể tại tôi bất tài, không tạo được hạnh phúc cho gia đình. Biết đâu, bà ấy với anh đồng điệu, hai người có thể tạo nên thiên đàng dưới trần thế nầy.”
Ông Tư ngại ngần và chùn chân, âm thầm lảng xa dần bà Huyền. Bà nầy biết được ý định, mắng ông Tư một trận nên thân, chưởi ông hèn nhát, bần tiện, keo kiết, không đáng xách dép cho bà. Ông Tư nghe xỉ vả chưởi mắng mà mừng húm. May mà chưa có cam kết gì với bà Huyền. Từ đó, ông đâm ra có thành kiến với bất cứ người đàn bà nào muốn tiếp cận với ông.
Ông Tư đã hết suy sụp tinh thần, tự tổ chức cho ông một đời sống có ý nghĩa, có nhiều niềm vui nhỏ nhặt trong đời sống, tránh xa mọi phiền toái của thế gian. Trong nhà ông treo một tấm biển lớn, chữ viết theo lối bút họa, ghi lời của một người bạn:
“Có thì vui. Không cũng vui. Được mất đều vui.”
Tràm Cà Mau
Tuesday, 1 March 2016
Subscribe to:
Posts (Atom)























