Wednesday, 23 June 2021

LỜI MẸ DẶN, KHI NHẬP KHÓA 20 SQTB… ( Nguyễn Tư )



LỜI MẸ DẶN,

KHI NHẬP KHÓA 20 SQTB…


*“Ôi quê hương xứ dân gầy…”(Phạm Duy)


Sau mãn-khóa,  mi cứ xin về đây!

Lỡ có giấy báo …Mạ tới cho gần?

Nuôi mi lớn chừng ni, đà kiệt sức!

Được cái Tú-tài trơn! Vậy là may...!?


Về đây, muốn thăm cũng dễ mà, con!

Mạ một mình chống gậy ghé qua đổn,

Nhắn mi ra “dòm” chút  thôi  ...đỡ nhớ!

Thăm  đường xa, thì tiền bạc đâu còn?


Mạ  phải bán lưng cho trời, nuôi mi!

Nhìn đất, thấy giọt mồ hôi đổ xuống …

Chỉ mơ một ngày như mình mong muốn:

Con được ấm thân từ chốn trường thi !?


Nhưng rồi binh-đao, nước non tao-loạn, 

Mộng dở-dang, đành phải lên đường!

Con nhớ về đây ...xứ nhiều bom đạn,

Lỡ có điều chi, Mạ tính cho gần...!?


Cơm Mạ nuôi, nhưng Chính-quyền kêu lính,

Mình làm dân, nên phải gắng tuân lời,

Đừng trốn nhủi như người ta toan-tính,

Hổ mặt Cha Ông… từng theo nước một thời!


Nhớ về đây, dù xứ ni nghèo quá,

Cây khoai mì không lớn nổi qua ngày,

Bàn chân đi…nghe tiếng khua sỏi đá, 

Nhưng nhau con, Mạ chôn ở nơi này…!!


*Nguyễn-Tư


Sunday, 13 June 2021

CHỮ “HIẾU”… ( Nguyễn Tư )


CHỮ “HIẾU”…


*Gửi: H.Niệm


Ngày xưa,

 dù đã “nên người”,


Vẫn về nuôi mẹ đau vùi,

 tháng năm...!


Đổ bô,

giặt quần,

mớm ăn...


Mẹ nằm rủ,

 liệt,

 tối-tăm mặt mày!


Són trong quần,

chẳng ai hay…?


Áo quần bê-bết,

nghe ra tội-tình!


Làm con,

đâu thể đứng nhìn, 


Lòng đau như cắt:

Mẹ mình chứ ai…?


Có người giúp việc,

khoan sai!


Mình chu-toàn tất, 

thay vai người làm…


Dù,

vốn là thân con trai,


Giặt quần cho Mẹ,

chả ai chê cười …?


Chì vì chữ "Hiếu",

 trên đời…


Đền công sinh-dưỡng,

một thời gian-nan: 


Chín tháng,

Mẹ từng nặng mang,


Sinh ra nuôi, 

lớn đến ngần này đây…!


Cho ăn học,

thân Mẹ gầy,


Như que củi mục,

tháng ngày tàn phai…!


Bi chừ, 

Mẹ đã oằn vai …


Trút đời,

 xuống nỗi buồn,

 dài héo-hon…!


“Công Cha như núi Thái-sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”


Nghĩa nào bằng nghĩa Mẹ Cha,

Công nào bù nổi… gọi là “Hiếu” đây?


*Nguyễn-Tư



TƯỞNG AI, CŨNG NHƯ MÌNH… ( Nguyễn Tư )

 


TƯỞNG AI, 

CŨNG NHƯ MÌNH…


*“Sự thật ngày nay,

không thật đến ngày mai”(XD)


Cứ tưởng,

 ai cũng như mình!?


Đến khi chộ mặt,

 thực tình ngẩn-ngơ!


Em ơi ,

 anh dân làm Thơ,


Trái tim mềm-mại,

 bao giờ dối-gian!?


Nên,

 nghe em nói dịu-dàng,


Anh tin,

 như thể mình đang là người…!!?


 Sau này,

 ngẫm lại thầm cười:


Hú hồn!

 mình đã một thời ngu-ngơ!


Cuộc đời,

 ở ngoài cơn mơ,


Bị "bán lúa giống" bao giờ,

 không hay!??


Kể từ,

 dạo nớ đến nay…


Không làm Thơ nữa,

lạ thay một điều:


Có tình,

 mình vẫn cứ yêu,


Chả tin gì sất...

 lại nhiều an vui !?


Mới hay, 

trái tim con người,


Có nhiều lối,

 rẽ cuộc đời ,

bên trong...!!??


*Nguyễn-Tư (Đông Úc, 21)



Monday, 17 May 2021

NƠI CĂN NHÀ, CỦA MỘT NGƯỜI LẠ…( Nguyễn Tư)

 


NƠI CĂN NHÀ,

CỦA MỘT NGƯỜI LẠ….


*Truyện ngắn Nguyễn-Tư

        * ChoTh, em vẫn mãi là hạt lệ đau, trong trái tim tôi…

                                                                                       NT


Người bạn nhỏ nói tiếng Bắc vẫn thường dành những ngày cuối tuần rong chơi với Hào, chỉ vì quí anh ta tính nết hiền lành có chút máu văn nghệ, nhưng đúng hơn vì Hào đã có giúp bài vở trong công việc xây đắp cho một tờ báo mới có tên là V.L, mà  người bạn  nhỏ đó có phần hùn. Thuận, người bạn đó, có lẽ cũng thấy được Hào là người  đứng tuổi, dễ tính và đơn-độc như mình, lạc-lõng trên một hòn đảo rất lớn mà chỉ có 18 triệu dân góp từ tứ xứ này, với những thiếu thốn sự chăm sóc cho kẻ độc thân như cơm nước, giặt giũ chợ búa… Nên, Thuận thường vẫn tự làm những bữa ăn gọi là “bổ sung” theo cái kiểu mua vật liệu từ shop về, lật tờ báo ra có mục dạy nấu ăn, coi từng cách chỉ dẫn theo phân định có sẵn, rồi thực hành. Thường món ăn không như ý, nhưng chắc hẳn cũng hơn những bữa ăn toàn đồ hộp và bánh mì… hàng ngày, chỉ cần ợ lên cũng phát ớn, nhất là đối với Hào, một người từng là lính chiến trước 75, thì thực đơn này coi như thường xuyên... Trong những lần như vậy, Thuận thường phône cho Hào hay, rồi đem xe đến rước, vì Hào là thân chủ của các hãng Bus và xe lửa mút mùa nơi đây. Hai anh em ngồi nhâm-nhi thức ăn dã-chiến với những lon bia, gọi là “weekend” với người ta cho khuây-khỏa tháng ngày. Hào thì chẳng biết nấu nướng gì ngoài chuyện bật cái bếp ga lên bắt nồi nước sôi, rồi bỏ vào đó một gói mì hiệu “2 con cua” thêm vào một ít tôm khô, xong đặt vào vài lá xà-lách … gọi giễu là “ Hải-ký mì gia” cho xong bữa…. Thỉnh-thoảng được ăn bữa cơm đúng nghĩa của nó ở nhà một vài người quen trong những khi lễ-lộc, hoặc lâu-lâu cũng có cô bạn ghé qua thăm, mang cho ít thực phẩm đựng trong cái hộp vuông bằng nhựa do chính cô ấy tự nấu đem nhét trong tủ lạnh của chàng, gọi là chút tình “có nhau” trong những ngày ràng buộc… Để rồi cuối cùng, cũng chỉ gửi lại nhau những lời, đôi khi cười buồn mà muốn quên đi như con sò chịu khó mang hạt sạn trong lòng mình để cho quí bà có chút ảo tưởng về niềm vui gọi là “ngọc trai” mà trang sức cuộc đời...


Chiều nay, ngày lễ lớn “Australia day”, Thuận tự dưng nghĩ đến một người ơn trước đây đã giúp mình rất nhiều trong chuyến đi đầy gian khổ nhưng thành công qua cái biển Đông chết người, lúc hắn chỉ là một anh công nhân quèn làm việc ở Cần-thơ dưới quyền của vị thầu-khoán đứng tuổi mà đào hoa này …Nên, Thuận ra phố mua món quà nhỏ gửi lại ân nhân cũ, có Hào đi cùng, sau khi cả hai người đã bù-khú ở một quán Bar thật vui-vẻ …Trời đã sụp tối, xe chạy vun-vút trên những con đường vắng lặng ở một khu gia cư không phố xá, hai bên phủ rậm những hàng cây xanh, Thuận luôn miệng nói về người đàn ông mà hắn cùng Hào sắp đến thăm với gói quà xinh-xắn này. Ông ta vốn là một người đàn ông Bắc, trước 75 khá giàu, có một đời vợ với những đứa con đã trưởng thành. Nhưng khi miền Nam mất, cũng như trăm ngàn người giàu có khác, ông trở nên “thân tàn ma dại”, trong cái chiến dịch “đánh tư sản” của VC đã làm cho Chợ-lớn trở nên một thành phố có nhiều người điên, và nhảy lầu …thì ông bỏ Sài gòn để về Lục tỉnh làm ăn với nghề xây cất.. .Ông trở nên khắm-khá trở lại, nhờ khôn ngoan và biết cách sống với những người cầm quyền mới, luôn trong đầu nhét những lời kinh điển của Mác, nhưng các dây thần kinh của họ lại rất nhạy bén với những khoái cảm trần-gian nhất của con người, mà ông Mác chỉ dùng để khẳng định đó là đặc tính của những tên “Tư-bản lười biếng” chỉ thích “ngồi mát ăn bát vàng” hưởng thụ mọi thứ trong cái phong cách mà Mác muốn phải cần lật đổ, tiêu diệt đi nhằm tạo một xã hội công bằng hơn gọi là “Cộng-sản”. .. người không bóc lột người…???!

   

   Nơi vùng đất trù phú ấy, người đàn ông đứng tuổi, lỡ vận đó khá giả lên trong dịch vụ làm ăn của mình và ông làm lại cuộc đời với một người con gái nhà lành, còn rất trẻ, khá xinh. Rồi họ tổ chức vượt biên thành công, đã sống hạnh phúc bên nhau với mấy mặt con trong một căn nhà yên tĩnh trên đất nước Úc xa lạ này. Hào ngồi bên nghe câu chuyện tình như một cuốn tiểu thuyết lãng-mạn trong thời đại mới, với nụ cười chia xẻ về một sự kiện có thực trong cuộc đời mà lâu nay chàng vốn nghi ngờ, từ cuộc kiểm nghiệm đời sống của mình đã nhiều năm không có gì vui ...Người bạn nhỏ nói thêm về ông ta trong cái dáng điệu bên ngoài không có gì là hấp dẫn đối với một người con gái đẹp vốn con nhà giàu, dù tạm quên đi cái phần “lớn tuổi”‘đã có vợ con” là những điều kiện chỉ kéo điểm thấp xuống trên cái “barème”mà những cô gái có nhiều ưu-thế được quyền tự cho phép mình sử dụng những bài tính trừ không nương tay. Thế mà họ lấy nhau như trăm ngàn cuộc tình trẻ mộng mơ khác tỉnh bơ...Hào gật đầu và búng ngón tay đánh chóc vào khoảng không với tiếng kêu “Good!” như lời chúc phúc cho những kẻ may-mắn trên cuộc đời vốn không bằng phẳng này, ở một thời buổi mà dường như mọi người đã quay lưng với những khuôn phép. Hào dúi điếu thuốc cháy dở vào gạt tàn vuông-vức gắn trước xe, thở mạnh để đem lại cho mình một chút thoải mái trong tâm hồn vốn đã dày đặt những ưu-tư của một người tự thấy mình chẳng có quái gì ở đời này, ngoài những gánh nặng mà chàng tự biết mình không thể nào chu toàn nổi. Xe quẹo qua một khúc quanh, người bạn nhỏ giảm tốc độ dần và từ-từ tấp sát lề vừa nói tới rồi... Hào mở cửa xe bước xuống vươn vai, bẻ người với một vài động tác thể dục cho bớt mỏi vì ngồi bó gối trên một đoạn đường dài, để đến thăm một người đàn ông mà chàng chẳng bao giờ quen, ngoài cái ý tưởng khát-khao muốn gặp một người có cảnh đời như ông bạn trẻ vừa mô tả, thì quả thực chàng rất ước mơ …hưởng ké…

Thuận đóng sầm cửa xe lại, khệ-nệ ôm gói quà bọc giấy hoa cột dây màu xanh nhạt trông rất trịnh trọng đi trước, Hào bước theo sau. Căn nhà nhỏ-nhắn, xinh đẹp theo cái kiểu kiến trúc vật liệu nhẹ đơn giản ở xứ Úc này, với tường gạch không trét hồ, trông không được liền-lạc như bên Việt Nam. Đặc biệt, dù người Úc là dân mắt xanh da trắng, nhưng đầu óc lại thấp lè-tè như cái chiều cao lùn tịt của người Đông phương không bao giờ dám đẩy những ước mơ và dự định mình lên khỏi ngọn cây. Những ngôi Chùa là nơi thờ phượng đấng Chí-tôn của họ, nhưng chỉ ẩn mình dưới những tàn cây âm-u. Những ngôi nhà họ rất kiên cố xinh đẹp, nhưng những mái tranh chỉ nằm ở mức độ người ta cứ phải cúi đầu để bước vô trong. Chưa bao giờ người Đông phương bước vào ngôi nhà của chính mình tạo ra mà được đi thẳng cái lưng, khác với người Tây phương những ngôi nhà Thờ hay những kiến trúc biểu tượng của họ bao giờ cũng xây trên vùng đất cao, hay những ngọn đồi ngay trong thành phố, lúc nào cũng thẳng vút lên trời xanh với ý chí vĩ-đại và  sự chinh-phục luôn dẫn đầu… Những kiến trúc hay sản phẩm người Úc lại lè-tè và thô kệch, nhìn một cái bánh của họ thì thấy rõ, to lớn khác thường như cái Big-Mac nhiều tầng chả hạn, thấy hết muốn ăn! Viên thuốc của họ, người Á châu mới nhìn luôn-luôn có cảm giác là nó không thể lọt qua cổ họng mình được nên thường phải bẻ đôi mới dám nuốt. Chiếc xe Holden Úc bao giờ những nút khiển dụng cũng rất thô-lỗ, tục-tĩu không như các hãng xe Nhật hay Pháp lúc nào cũng thanh cảnh, nhỏ nhắn, nhẹ nhàng. Khắp cả nước Úc chẳng thấy gì gọi là “cao”, ngoài cái “Sydney Tower”

giỏi lắm chỉ hơn 300m là cùng...

 Người bạn nhỏ đứng nơi hiên nhà ân-nhân của mình, ôm gói quà trước ngực, tay kia gõ nhẹ vào cánh cửa trước, đã ngã màu. Người đàn ông chủ nhà bước ra tiếp khách. Hào được mời vào như một người khách lạ mới đến lần đầu. Người chủ nhà có vẻ hiền lành mộc-mạc đưa cả hai người vào phòng khách. Ba người ngồi nơi bộ salon bằng da giữa một căn phòng vuông sạch sẽ, phía trên có chiếc quạt trần chạy chậm-chạp để đẩy dần đi cái nóng bức của mùa Hè xứ này, không thua gì ở nước vùng nhiệt đới như bên quê nhà. Dưới ánh đèn néon màu trong xanh, phả lên tường màu trắng ngà, làm cho căn phòng có vẻ dễ chịu. Thuận đặt gói quà lên tấm kiếng mặt bàn rất thấp có lộng những tấm hình của những người trong gia đình chủ nhà… gồm có ông bà và những đứa trẻ, vừa nói quà cho anh chị và sắp nhỏ đây. Xong, Thuận đưa tay mở cà-vạt nơi cổ áo cho lỏng bớt, rồi vui vẻ giới thiệu Hào với người chủ mà Thuận vừa kính vừa quí trọng, đã là ân-nhân mình từ lâu. Giọng hắn thân mật: 

       -Em xin giới thiệu, đây là anh Hào, người đã từng cộng tác trên tờ VL của em mà anh vẫn nhắc tới khi đọc báo em mỗi tuần….


Người chủ nhà, đứng tuổi, hơi tỏ vẻ ngạc nhiên, vì dường như ông ta đã biết Hào rất nhiều với một chút cảm tình trong những câu chuyện ngắn hay thơ đã đăng trên báo mà ông cho là, đôi khi nhìn thấy trong đó có bóng dáng của mình. Hơn nữa, trong câu chuyện vào những lần đến thăm riêng của người bạn nhỏ là Thuận, ông chủ nhà cũng có biết khá chi tiết về Hào do ông em này tiết lộ, như nghề nghiệp ở quê nhà, nơi làm việc trước 75, hoàn cảnh gia đình cùng tên thực, và cái bút hiệu mà người chủ nhà đã từng quen qua những chuyện ngắn, và Thơ ...Người chủ nhà mừng rỡ bắt tay người “khách-lạ-mà-quen” này với chút mến-mộ như một độc giả riêng tư, lại tình cờ được gặp mặt hôm nay. Nhất là dường như người khách mới này từng có một sự liên-hệ gần-gũi nào đó với gia đình phía vợ ông ta trước đây, mà ông chỉ biết lờ-mờ kể từ khi về làm rể trong một cung cách khá đặc biệt. Ông nhớm người lên chồm về phía người khách mới, đưa tay ra, bắt tay người kia vẻ niềm-nỡ và thân tình, với những ý nghĩ tốt từ trước, ông nói:

      -À, xin chào anh!Hân hạnh được biết anh qua những câu chuyện ngắn và thơ trên báo và qua những lần chuyện trò với chú Thuận. Nay mới được gặp mặt ngoài đời, vui quá không gì bằng …

   Vừa nói, vừa cười rồi ông chủ nhà lại siết chặt tay Hào một lần nữa. Hào cũng lịch sự đón nhận những lời chào nồng hậu của người chủ nhà, cùng gia đình và đời sống tình cảm mà chàng đã được nghe Thuận mô tả trước, không bao lâu trên khoảng đường đến nhà khá xa. Cái cảm giác đầu tiên của Hào, là người chủ nhà không có vẻ gì thích nghi với việc làm giàu trong  nghề Thầu-khoán, bởi người Á châu thường có thành kiến không đẹp với những nghề có chữ “thầu” đằng trước, như “thầu số đề”, “thầu cơm tù” hay “thầu đồ may” … vì họ nghĩ tầng lớp này bóc lột công nhân và lớp tiêu thụ như dân Á-châu trên xứ Úc này. Hào cũng từ-tốn đáp lễ:

       -Vâng, cảm ơn anh. Tôi cũng viết lách cho vui vậy thôi, ở đây buồn quá, tôi vẫn thường tháp tùng theo ông bạn nhỏ này rong chơi. Nay có dịp quen anh, hy vọng là tôi có được ông bạn mới. Dẫu sao tụi mình là những người đứng tuổi, có chút quá-khứ, hơn nữa lại có chút tình với đời sống, chắc sẽ dễ hiểu nhau hơn …

    Người chủ nhà rót nước mời hai người khách với dáng điệu cởi mở và thân tình, rồi ông nâng tách trà lên đưa cho Hào. Thuận thì tự nhiên như người trong nhà, đã đến đây nhiều lần nên hắn ta tự nâng ly trà của mình lên uống với lời khen: “Trà thơm quá. xin mời hai ông anh!” …

    Hào chồm người tới đưa tay đỡ chén trà từ tay người chủ nhà với lời cảm ơn thông lệ. Người chủ nhà cầm cái bình thủy đặt trên bàn chế thêm vào chiếc bình trà đã vơi nước tuy còn bốc hơi. Mùi của hoa cúc ướp trong trà bay lên nghe thơm phức lẫn với vị ngọt-ngọt của mùi mía lau khô gây cảm giác đê-mê của cái thú “Trà đạo”, thường được mô tả trong những cuốn truyện Tàu hay Nhật của xã hội Đông phương ngày xưa mà chắc hẳn lối sống uống trà thô-lỗ kiểu Lipton khuấy sữa như người Tây phương chẳng bao giờ có. Hào hớp một ngụm trà nhỏ, cố hít hết mùi hoa cúc vào tận buồng phổi, lâu nay chắc cũng bị nám đen bởi những màn khói liên-tu bất-tận chui vào những phế-nang ngày càng teo lại, do sự đốt cháy hừng-hực những điếu Dunhill không ngừng-nghỉ với nồng độ “nicotine” rất cao 2.5 để tạo ra cái cảm giác đê-mê hai bên thái-dương mà Hào tự biết nó có thể đem lại cho chàng một ít lãng quên cần thiết, đồng thời với ý thức mơ-hồ rằng đó cũng là cách tự giết đời mình mà chẳng mang tai tiếng gì …

     Qua làn hơi trà vươn lên màu xanh-xanh, cuộn với khói thuốc trắng đục, xuyên qua khung cửa nhỏ ngăn đôi phòng khách có treo bức sáo làm bằng những sợi nylon dẹp đủ màu, Hào thoáng thấy một người đàn bà còn trẻ đang cặm-cụi ngồi may phía trong. Bà trông trẻ hơn ông chủ nhà rất nhiều, dĩ nhiên… Với đôi tay trắng ngà nổi bật lên hai tay áo cụt màu xanh dương, cùng chiếc mũi nhìn nghiêng khá thẳng, Hào cảm thấy những điều ông bạn trẻ nói khi còn trên xe là đúng. Hào liếc nhìn người đàn ông để chiêm nghiệm cái hạnh phúc mà chàng mới nghe, những tưởng là một cuốn truyện trong tiểu thuyết với nỗi khát-khao, sau khi kiểm chứng lại đời mình, chàng tự thấy đôi lúc đó là một buồn tủi… Bởi vì, xét về phương diện con người, thì mọi người đều được hưởng Hạnh phúc như nhau …chắc gì ai đã tài giỏi hơn ai, nhưng Hạnh phúc cho từng người lại khác biệt…đôi khi trái nghịch nhau là khác ???

      Người chủ nhà chồm tới hướng Hào, kéo cái tách để châm thêm nước trà mới, vừa nói trong nụ cười:

            -Trong những câu chuyện anh viết, tôi thích nhất về đề tài Mẹ, về đời dạy học, về đời lính và tù của chính anh …vì tôi biết rằng nó rất thực chả hư cấu gì, vì anh là người khá gian-nan trong cuộc sống từ bé …

     Hào ngừng hút, lấy điếu thuốc cháy dở ra khỏi mồm, mắt hơi nheo lại, nhìn về phía người chủ nhà, rồi ôn-tồn nói:

           -Người cầm bút bao giờ cũng chọn mình làm tâm điểm trước tiên, những tác phẩm bao giờ cũng là những kinh-nghiệm cá nhân trước đã, nhưng thường cái cá-nhan được hình tượng hóa bằng một mẫu người điển hình trong xã-hội, mà khi độc-giả nhìn vào đều có thể nhìn thấy bóng dáng mình một cách gần-gũi, đến độ đôi khi đồng-hóa mình với nhân vật trong truyện là một. Lúc đó, tác giả, nhân vật, và người đọc chồng khít lên nhau, như 3 tấm hình hệt nhau cùng chụp trên một khung ảnh. Trong trường hợp đó, nhân vật là chiếc cầu nối giữa tác giả và người đọc. Cái cầu càng ngắn, sự gần-gũi và chia xẻ giữa tác giả và người đọc càng sâu đậm hơn. Tác giả nào có kinh nghiệm sống càng nhiều, thì ông ta càng tạo ra những chiếc cầu cho nhiều độc giả, và tùy tài-năng diễn-tả riêng của ông về nhân vật ông xây dựng sẽ bảo-đảm khoảng cách ngắn hay dài giữa ông và độc giả. Đó là điều khó vô cùng cho những người làm văn nghệ, bởi vì trong cùng một lúc họ phải có hai điều: một là tài-năng, hai là kinh-nghiệm sống. Có một trong 2 cái, thì què quặt, bởi một là họ sẽ trở thành kẻ nói dối, vì nói những điều mình chưa có kinh-nghiệm sống bao giờ, ví dụ chưa đi lính ngày nào, thì không thể nói về Chiến tranh chính xác,  hai là họ sẽ trở thành kẻ mộng-mơ, bởi vì họ đã làm một công việc quá khả năng của mình, là không đủ tài để xây dựng những nhân vật … Tôi chỉ là một người cầm bút tài tử rong chơi, nên chẳng nên đề cập về vấn đề có hay không có 2 điều kiện đó. Có điều, nếu vì nhờ có những cảnh đời tương-tự nhau mà anh đã kể ra lúc này, thì xin cảm ơn anh như một người chia xẻ. Tôi đã biết tôi mân-mê những ngày đi dạy học vì tôi chẳng có gì để nhìn ngắm riêng cho đời mình cả, ngoài công việc phấn trắng, bảng đen lẫn với những tà áo phất-phơ trong suốt thời kỳ thanh bạch của những ngày còn trẻ, để rồi chỉ tạ từ, lao vào lửa đạn trong cuộc chiến tranh tàn khốc, mà thế hệ thuộc lứa tuổi bọn mình hứng chịu không hề than-van...Tôi viết văn vì thế, và đôi lần bỏ bút cũng chỉ vì thế …

   Người chủ nhà gật đầu và muốn nói  đôi điều về mình để chia xẻ:

       -Tôi là một người làm nghề xây cất, cuộc đời chỉ vây quanh những viên gạch, những bao xi-măng, những tấn sắt thép và cát đá ...nên tôi không hiểu gì nhiều về Văn chương, Triết học mà dường như anh  đã dạy ở các trường trung-học miền Tây, có đi gác và chấm trong những kỳ thi Tú-tài, trong đó chắc hẳn có mấy chị em nhà tôi … Dù vậy, khi đọc văn của anh, tôi vẫn thấp-thóang thấy một điều gì đó ẩn-ức trong lòng những nhân vật, thường có những bối cảnh không được vui, bắt người đọc, đôi khi phải tự nhìn vào đời sống của mình để tìm kiếm một cái gì đó tương-tự, có thực trong xã hội mình đã bước qua... Nhưng, vì một lý do riêng tư nào đó, từ một hoàn cảnh đặc biệt làm mình lãng quên và nhận ra rằng, nhân vật đó chính là mình! Tôi cũng có một người Mẹ mà tôi luôn xa cách như anh, có một khoảng thời gian làm học trò mơ-mộng, và những ngày lêu-bêu khi tôi bỏ gia-đình vào Nam một mình, rồi những ngày lửa đạn. Đất nước mình đâu có ngày nào vui, thì Văn chương làm sao lại cứ nhắc đến những nụ cười trên đống tro than của Tổ-quốc? Nhất là hoàn cảnh bây giờ lại còn thảm-thê hơn gấp bội lần, kể cả người trong nước lẫn tụi mình lúc này. Anh nghĩ coi, thực sự nó là mặt trái của những niềm đau … và, đó chính là điều tôi cảm thấy gần-gũi với anh …

       -Cảm ơn anh, văn tôi viết không phải cho tất cả mọi người đọc được, vì thực ra sự thưởng ngoạn văn-chương nó không phải là món “cơm bình-dân”, ai ăn cũng được, cốt chỉ cần cho no bụng, mà nó là một thứ rượu quí dành cho “tửu lượng” riêng của từng người. Người đã mê nhạc Trịnh rồi, thì khó lòng nghe được nhạc “sến” hay Cải-lương, bởi vì trình độ học vấn và thưởng ngoạn kể cả khẩu-vị họ không giống nhau, y như thú uống rượu vậy. Uống rượu là một trò chơi thưởng ngoạn lịch-lãm cho giới phong lưu ngày xưa cũng như bây giờ, thường được xếp theo thứ tự: “cầm, kỳ, thi, tửu/họa” mà anh, và nó làm người ta mê say chứ không phải là một món giải-khát như nước ngọt cho vui được. Người ta thấy nhiều kẻ nghiện rượu, chứ không thấy ai nghiện nước ngọt cả. ngoại trừ con nít. Bởi vậy tôi không bao giờ viết chiều theo thị hiếu tất cả mọi người được, trong một xã hội người ta yêu phim sex, lười suy tư, mà người ta ưa gọi là “đông não”... hơn những cuốn Thánh-kinh. Người ta thích cười đùa bỡn cợt hơn là suy-tư trong những cái đầu dễ-dãi của mình, mà môn triết Tâm-lý học phân làm 2 loại rõ ràng khi tìm hiểu về con người: “E”(émotif: dễ cảm-xúc) loại này hiếm hoi,  và “NE”(non émotif: vô-cảm” thì vô số, nhất là ở VN ngày nay.anh cứ đọc tin mỗi ngày thì thấy, một xe bia bị tai nn... người ta bao quanh để nhặt bia về uống mà không cần biết tài xế ra sao, và bia này của ai, hay tài xế chỉ chở mướn ? Tôi không đùa giỡn với cuộc đời này được, nếu cần bỡn cợt, tôi nghĩ chỉ nên đến tiệm bỏ ra vài đồng bạc để thuê một cuốn băng hài Tùng-Lâm, hay La-Thoại-Tân gì đó, về coi là đủ, và nên nhớ rằng, đó không phải là Văn chương gì cả mà là một dịch vụ để kiếm tiền, cho người ta giải trí mà thôi ...nên người ta mới nói là “giễu rẻ tiền”  … Tôi nghĩ, nếu chỉ cần đọc sách, để mua nụ cười, rồi thôi, chẳng còn gì lại trong đầu, không học hỏi, không suy tư, thì nên đọc chuyện tiếu-lâm vui hơn, Văn chương, Triết học, chữ nghĩa làm gì cho mệt !?

  Người chủ nhà cười chia xẻ với những câu ví-von đơn giản nhưng thực tế của Hào, rồi ông vui-vẻ nói:

       -Thực sự, anh không biết tôi, nhưng tôi biết anh rất rõ, kể từ ngày tôi đọc trong một truyện ngắn của anh có nói về một ngôi trường mà dường như nó có dính líu nhiều đến một người thân của phía vợ tôi, mặc dù gia đình tôi ở cách nơi anh dạy ngày xưa một cái tỉnh. Nói xin lỗi, chính vì những điều đó, tôi đã tìm hiểu nơi anh qua những người biết anh và cũng muốn gặp anh sớm hơn để nói chuyện chơi … May quá, nay lại được gặp anh bằng xương bằng thịt nơi căn nhà tình-cờ này … 

     Hào có vẻ sửng-sốt về những lời nói đường-đột có vẻ thật tình của người chủ nhà, mà chàng chưa hề gặp cũng như chưa biết tên bao giờ, ngoài câu chuyện về một cuộc tình lãng-mạn như mơ mà Thuận đã kể trên xe. Điều ngạc nhiên nhất là người chủ nhà đã nói đến việc “biết rất rõ về anh” và ”có  liên- quan đến một người thân của phía vợ tôi”…rất kỳ-bí . Biết rõ một người chưa gặp mặt bao giờ cũng là một hiện tượng lạ, và lạ hơn là người đó lại dính líu tới người thân của họ nữa, làm Hào bối rối và ái ngại ra mặt, không biết thế nào, chuyện vui hay buồn, nhưng dù sao ông ta cũng là người có vẻ “mến mộ” mình, có chia xẻ được trong Văn-chương mà lại là người thân tín với Thuận, thì Hào chẳng e ngại gì mà không tra hỏi:

       -Như vậy, chắc hẳn anh đã có một thời làm việc ở nơi đó, hoặc người thân anh ở đó ?

Người chủ nhà có vẻ bí-mật lắc đầu, đắn-đo một lúc rồi nói:

       -Không, tôi chẳng ở đó bao giờ!

       -Lạ nhỉ?

Người chủ nhà suy nghĩ một lát, nhìn thoáng vào nhà trong qua bức sáo che cửa bay phất-phơ, vẫn còn thấy người vợ trẻ mình đang âm-thầm cặm-cụi trên bàn máy may, rồi đột nhiên hỏi:

       -Anh từng có người yêu nào ở Cần-thơ trước đây, hay không?

   Thuận bật tiếng cười lớn, cướp lời:

       -Chết mẹ rồi, bể mánh hết! “Thú tội trước bình minh”đi ông anh!

   Hào mỉm cười, đưa tay sờ những sợi râu ngắn lởm-chởm mọc lưa-thưa, vừa nghĩ đến người bạn gái cùng lớp cách đó mười mấy năm rồi, khi còn là sinh-viên trên trường Đại học ở Sài gòn, nàng vốn người Cần-thơ và khi ra trường cũng về dạy tại  nữ trung học Đoàn-Thị-Điểm lớn nhất ở phủ thủ miền Tây này. Người đó đã lập gia đình rồi và đã trở thành một thứ kỷ niệm rất xa-xăm của thời cắp sách, chỉ được nhớ lại khi có ai nhắc đến mà thôi, nên Hào buột miệng nói:

       -Có chứ anh, nhưng lâu lắm rồi, thời còn SV lận mà, rong-rêu hết rồi. Bây giờ cô ấy đã trở thành bà Giáo-sư dạy tại trường nữ khét tiếng này và sau 75 bà làm Hiệu trưởng nữa, nói ra  có thể anh biết tên …

   Người chủ nhà cười bí hiểm, nói vẻ trách móc:

       -Vậy thì không phải rồi, kể ra anh cũng vô-tình …!

   Hào nhíu mày suy nghĩ một lát để soát lại trí nhớ của mình vốn đã cùn mằn theo thời gian, cố rà lại tất cả những người phụ nữ mình đã có dịp quen ở thành phố gọi là “Tây đô  này mà chàng chỉ lưu lại đó trong những ngày thật ngắn-ngủi cho các kỳ gác  hay chấm thi Tú-tài trước kia mà thôi, là khoảng thời-gian không đủ dài để có những cuộc tình, cho dù có lãng-mạn đến cách nào đi nữa. Nhưng cuối cùng chàng vẫn chưa tìm thấy ai, ngoài cô bạn của những ngày Đại học tên Trâm…Nên trong tiếng cười thân mật và chắc nịch với sự quả-quyết đầy tự tin của mình, Hào nói vui-vẻ:

       -Thôi, vậy là cha lầm ai với tôi rồi cha ơi! Chắc là ông đã “nhìn gà hóa cuốc” vì trong ngôi trường tôi dạy có tới 3 ông Giáo sư Triết lận cha nội. Lầm rồi, không phải tôi đâu!

    Người chủ nhà mỉm cười, chậm-chạp cầm bình thủy châm trà một cách thanh-thản không một phản-ứng. Thuận ngồi bên, giọng đùa cợt xen vào kiểu VC:

      -Thôi đi cha nội! “Có gì thì cứ thành khẩn  khai báo, CM sẽ khoan hồng!”

   Hào lắc đầu, nói:

         -Chắc chắn là ông này lầm rồi, “tin-tức tình-báo” kể như trật-lất hết, không có lý do gì có một người bồ công-khai đến độ người khác biết mà mình lại không nhớ ra? Nhất định là tôi chỉ có mỗi cô bạn thời SV đó thôi, lâu lắm rồi …!Tình yêu mà, đâu phải trộm cắp gì ai mà phải chối?

    Người chủ nhà vẫn trầm-tĩnh, nói:

        -Không, cô này còn học-sinh, nhỏ lắm, chỉ lớp 12!

Hào lại càng quả-quyết hơn nữa, thú-nhận thêm:

       -Nói thực, trong đời dạy học tôi chỉ liên-hệ tình cảm với cô giáo mà thôi, dù chỉ mến-mộ nhau qua thơ phú lãng-mạn chơi thôi, chứ chẳng làm phiền gì đến đời ai cả. Nhất định là tôi chưa bao giờ “đụng” đến mấy cô gái  mình từng dạy....hay đang đi học ở bất cứ nơi đâu, nhất lại là Cần-thơ như anh hỏi...

      -Thực không?

      -Bảo đảm 100%. Jamais!

Người chủ nhà hỏi lại:

     -Lúc anh đi dạy cũng như đi chấm thi có phải tên anh là Hào không?

     -Đúng vậy!

     -Ở trường đó có mấy ông tên Hào dạy Triết ?

     -Một ông thôi, là tôi!  

     -Vậy thì“lầm” thế nào được ông bạn ?Tôi chỉ sợ trùng tên thôi, đằng này ...

   Hào có vẻ bối-rối và nghi-ngờ câu chuyện đến tột đỉnh. Bởi vì chàng không có người yêu nào ở Cần-thơ mà lại còn nhỏ cả ? Chàng có dạy học trên đó bao giờ đâu mà yêu học trò? Hay là có một cô học trò nào của mình ở tỉnh đổi lên đó học rồi bày đặt “phá” mình chơi ? Chuyện gì lại không thể xảy ra dưới bầu trời này được, nhất là một người mang tiếng “tài tử, bất cần đời”như Hào lại phụ trách dạy một môn học dễ gây những đam-mê mới lạ ở giới thanh niên vừa mới lớn lên tiếp xúc với tư tưởng Tây phương sâu xa, rất lạ-lẫm là Triết học mà thời ấy chỉ lớp 12 mới được học. Nhưng dù cố gắng cách gì, Hào cũng chẳng tìm ra “thủ-phạm” ma-quái đó là ai ?Hào lắc đầu khẳng-định lần chót:

     -Thực lòng không có, nếu có thì tôi chẳng sợ gì mà phải chối quanh. Yêu thương đâu có tội lỗi gì mà phải sợ, chỉ có ghét bỏ, thù hận người khác mới là tồi tệ.....Quí vị có công-nhận như thế không nào ?

  Thuận cười chen vào:

     -Nhưng yêu mà không nhớ nổi người mình yêu là có “tội” đấy nhé!

     -Đúng vậy, nhưng không có mà nói có cũng là tội tày trời chứ nhỉ?

 Thuận tiếp:

     -Cái này để cho ông chủ nhà giải-quyết chứ tui vô-can à nha .., khà... khà...!

 Người chủ nhà vẫn nghĩ mình đúng, nên từ-tốn, rút thuốc ra đốt hút, hít một hơi dài, hỏi:

     -Anh có quen một người con gái nào đó khá đẹp vào một mùa Hè ở Cần-thơ tên Uyên không?Người đó, nói thực, không ai xa lạ cả mà là chị ruột của bà xã hiện nay của tôi này…

  Vừa nói người chủ nhà vừa đưa tay chỉ vào chỗ người đàn bà ngồi phía trong nơi bàn máy may có bức sáo treo đong-đưa…Nói xong, người chủ nhà có vẻ nghiêm-trang hơn với nỗi thắc-mắc về một sự-kiện mà ông biết rõ như ban ngày, chỉ vì ông là rể trong gia-đình. Sự thực, đó là niềm đau riêng trong nhà vợ, ít khi được tiết-lộ ra bên ngoài, ngoại trừ ai thân tín. Đúng hơn, người chủ nhà chỉ biết chuyện này, dĩ-nhiên do cô vợ thân yêu nói ra, vì Uyên là một đứa con gái đẹp hơn cô em, rất lãng-mạn và nhút-nhát nhất trong gia-đình, lại chỉ chơi thân với cô em kế mà thôi, nên có gì buồn vui thì hai chị em tâm-sự hú-hí với nhau, kể cả những chuyện thầm kín đau thương nhất trong cuộc đời…Cái tên “Uyên” vừa mới được nói ra, đã làm cho Hào giật mình đánh thót, không phải vì mình tự dối lòng mình như một kẻ muốn chạy trốn quá-khứ, nhưng thực ra, nó có nhắc cho chàng nhớ ra một người, mà trong thâm-tâm chàng nghĩ rằng đó là người yêu nhưng chỉ trải qua một thời kỳ quá ngắn của mình, cũng không hẳn không phải là không có liên hệ tình cảm với mình…!Hào đã mường-tượng ra được người con gái có cái tên rất dễ thương đó vào một mùa Hè năm xưa, một “mùa thi” thì đúng hơn, rất tình-cờ khi chàng là Giám-thị phòng tại đó,  nơi thành phố xinh đẹp bên một dòng sông …


Lúc này, Hào thực sự băn-khoăn, mặt trầm xuống với cơn xúc động,  khi nhớ đến cái tên vừa mới được ông chủ nhà nêu ra đó trong sự ngỡ-ngàng. Cái tên chàng từng yêu, từng gọi rất âu yếm khi đã “có nhau” lúc ở Saìgòn mà chàng đã là một người lính phong sương. Và, Uyên đang học Đại học Văn khoa tình cờ gặp nhau nơi một quán ăn ở phố Bonard để từ đó mối tình lớn dần. Cho đến một ngày Hào biết gia đình nàng từ chối chàng vì quyền lợi của gia đình, họ muốn gả Uyên cho dân “xịn” thời bấy giờ như những SV Du-học về, hay con những ông lớn trên Toà Tỉnh vì gia đình nàng rất giàu có, trong ngành kinh doanh vàng và vải ở phố lớn bến Ninh-kiều nên họ muốn nàng làm dâu người ta để dễ làm ăn …Điều này, làm cho Hào vừa tự-trọng, vừa tự-ái nên tự động thối lui ...cốt chỉ để cho Uyên có nơi xứng đáng hơn. Cái lon Trung-úy quèn của chàng, lại sống chết như chơi mỗi ngày, với số lương chỉ vừa đủ cho mình, và năm 75 mang thêm 6 năm tù khổ sai nữa, là cái may vô cùng cho Uyên của mình khi sau này chàng nghĩ lại. Nên, từ đó Hào cố dằn lòng quên đi vết thương mà chàng tự biết không bao giờ nguôi đựợc. Dù trong thâm tâm chàng vẫn rất muốn quên nó, muốn đẩy nó chìm trong vô thức của chính mình, khi mọi lối mở bị bế-tắc, ngoại trừ con đường lui binh “mở đường máu”thoát thân, mà chàng từng ứng-dụng trên chiến trường gai lửa, khi địch sắp tràn ngập vào đồn với số quân đông gấp bội, bởi vì CS luôn dùng chiến thuật “biển người” thì mình đành thúc-thủ bó tay.... Giờ, Hào đem ứng dụng vào mối tình lỡ, dù rất ngọt-ngào vì sức tấn công vũ bão của gia đình Uyên mà chàng biết không thể đỡ nổi lúc Uyên phải là đồng-minh sát cánh với chàng thì mới mong thế cờ lật ngược ...Thực tình, Hào không hề biết phản ứng của Uyên ra sao, ngoại trừ những giọt nước mắt lặng-lẽ mỗi khi hai đứa gặp nhau, mà lúc này chả ích lợi gì cho cuộc tình đang bị đe dọa, bởi vì nàng không phải là type người có thể phản kháng những rào cản tình cảm mình mà chỉ muốn thuận theo ý gia đình, ngoại trừ một lần nàng dám từ chối chuyến du học Đức theo người anh như gia đình muốn mà chỉ ở lại VN học Văn-khoa môn Triết như Trâm, cô giáo rất thần-tượng của mình ở Trung học...Hào đánh giá thấp lòng dũng cảm của Uyên như vậy, cũng đồng nghĩa rằng tình yêu của nàng đối với chàng không đủ lớn để hành động thì chi bằng mình lặng-lẽ “lui binh” cho xong vậy. Từ đó Hào âm thầm tự rứt mình ra khỏi cái tên mà chàng từng yêu thương là Uyên, cho đến sau 75 đi tù, và rồi lưu-vong nơi đất khách với bao lo toan cho cuộc sống mới cho bản thân lẫn gia đình còn kẹt lại VN …  thì chắc hẳn những đau thương ngày xưa sẽ lùi càng xa vào dĩ vãng khi sự việc đã qua mấy chục năm biển dâu rồi ..,

  

  Người chủ nhà nhìn tâm sắc của Hào lúc này, thì biết là chàng đã có một sự trục-trặc nào đó rất lớn trong mối tình này, mà ông chỉ là vai rể sau này mà thôi, khi mọi hoàn cảnh đã đổi thay hoàn toàn không còn chút gì lưu lại của thời vàng son ấy nữa trước 75, sự giàu có của gia đình vợ đã bị bôi xoá bởi chế độ mới, khi phong trào “đánh tư sản” xảy ra . Tất cả đều tàn mạt, tất cả đều ly tan, và chắc hẳn biến cố cũng đã tham dự vào đời cô vợ trẻ của ông vì sao phải chịu lấy ông, đến nỗi oan-khiên của Uyên.  Phải có mốt điều gì đó trắc-trở đau thương khủng khiếp bên trong mới tạo ra thảm-kịch này, mà với vai vế một người rể ngoài cuộc muộn-màng ông không thể hiểu được nhiều, nên người chủ nhà quay về phía Thuận, nói nhỏ:

   -Xin lỗi Thụận, anh cần ra ngoài nói chuyện với anh Hào một chút nha, em ngồi đây uống thêm trà đi!

   -O.K, hai ông anh cứ tự nhiên đi, em muốn vô thăm mấy đứa nhỏ coi chúng lớn được bao nhiêu rồi?... 

  -Hai anh em mình ra ngoài đi anh Hào !

      -Vâng!

 Người chủ nhà bước ra ngoài cửa, Hào đi theo sau với dáng điệu buồn bã vì biết mình sẽ phải nghe một chuyện không lành. Khi cánh cửa phòng khách đã từ từ khép lại, người chủ nhà xúc-động kê mồm sát tai của Hào, hỏi nhỏ:

 -Hai người, xưa yêu thương nhau làm sao, mà con nhỏ không chịu lấy chồng, đám nào xứng đáng cũng từ-chối hết, trong đó có mấy thằng Du học Mỹ về tòan con mấy ông bự. Dù anh cũng biết gia-đình bà xã tôi mà, trước 75 giàu có buôn vải buôn vàng cỡ đó đôi ba tiệm đồ sộ nơi phố chính... Uyên nó xinh gái nhất nhà, học-hành đàng hoàng vậy mà nó chỉ muốn “ở vậy” suốt đời, ngày hai buổi nó lặng lẽ đi làm nơi “Ngân-hàng nông nghiệp” gần nhà mà thôi, không giao du, họp hành vui chơi gì với ai cả , ngoại trừ lâu-lâu hai chị em dắt nhau đi xem Ciné vậy thôi . Bà xã tôi dĩ-nhiên biết hết tất cả về mối tình đau thương này vì hai chị em kề nhau, tối ngủ chung giuờng như hai tri kỉ, bả được xem những tấm hình anh gửi, và những tờ thư tình anh viết chữ rất bay bướm trên giấy pelure màu xanh nhạt, ướp thơm mùi nước hoa “Chanel Number 5” mà anh ưa tặng Uyên mỗi khi về phép... Tất cả những thứ ấy được đựng theo thứ tự ngày tháng trong một cái hộp bánh bích-qui như một tài sản riêng của Uyên không ai được đụng tới, ngoại trừ bà xã tôi ...Ai thắc mắc về tình cảnh đơn độc của Uyên mà hỏi tới, nó chỉ làm thinh và hai mắt rưng-rưng vậy thôi, không hề hở nửa lời nhưng trong gia đình, dĩ nhiên thì ai cũng rõ vì sao!? Nó buồn, chấp nhận đời sống đơn tủi như vậy, đến 75, nó biết anh đi tù, nhưng nó không biết làm sao thăm nuôi anh, vì anh không hề liên lạc với bất cứ ai, kể cả bố mẹ anh ngoài Trung vì sợ gia đình cực nhọc thăm viếng tốn kém vì anh đi tù quá xa tận mũi Cà-mau... Mấy người bà con ngoài Bắc về đến trại tù thăm, anh cũng không tiếp vì anh không ưa nhờ vả. Sau này, nó biết anh ở Úc  hình như là do bà xã tôi vì đọc anh khá nhiều, và hỏi thăm về tông tích anh rất kỹ... thì Uyên nhất định đi theo người ta vượt biên, rồi bị mất tích  trên biển Thái-Lan luôn! Nhà tôi buồn lắm và gia đình giấu nhẹm tin này không muốn lộ ra ngoài… Tôi chỉ là rể, mến anh, tôi muốn cho anh biết tin này. Tôi nghĩ bên trong còn  có cái gì đó ẩn-ức lắm …


Hào đứng trơ người như tượng đá đầu non, cầm điếu thuốc hút dở trong tay đang cháy xèo-xèo vào da khét-lẹt mà không hay, khiến người chủ nhà giựt điếu  thuốc vứt đi, rồi vỗ nhẹ vào vai người bạn mới mà ông mến-mộ, nói: 

   -Thôi, việc đã lỡ rồi, tôi biết anh rất buồn, mà ai gặp hoàn cảnh oái-oăm như vậy cũng thế thôi, nhưng làm sao hơn khi mình đâu sửa được quá khứ? Tội-nghiệp cô bé, tội nghiệp anh, và cũng tội nghiệp bà xã tôi, mỗi lần nhắc đến chuyện đó bả khóc tỉ-tê vì hai người thân nhau như bạn kể từ khi bà già mất..

Lúc này, tình cảnh hai người bạn mới, cảm thấy không còn gì để nói nữa vì đã nói hết cả rồi, nhất là Hào hai đôi mắt đỏ hoe và giọng nói khàn đục thấp xuống vì quá xúc động về một người yêu cũ mà trong lòng chàng, kể từ khi chia tay, đã luôn nghĩ chắc nàng đang Hạnh phúc với cuộc tình mới do gia đình lựa chọn trong cảnh giàu sang và thuộc giai cấp cao trong xã hội thời bấy giờ vì bản thân nàng là cô gái đẹp, nết na, con nhà giàu, có học thức với nghề nghiêp vững chắc, không bấp-bênh như chàng...Nhưng thực sự, không phải như vậy, mà nó đi ngược lại hoàn toàn với ước mơ của chàng cho Uyên sau khi mối tình dang-dở tức-tưởi chỉ vì áp lực gia đình mà nàng không nỡ cản lại. Nên, phải chọn con đường tự hy-sinh chính cuộc đời của mình, nhưng không đành lòng buông bỏ một người mà nàng vừa yêu thiết tha vừa là ân nhân trong một cuộc gác thi tình cờ, anh ấy đã nhường cho nàng chỉ vỏn-vẹn 5 phút phù-du, nhưng là vàng ngọc để nàng chép cái phần cuối ngắn-ngủi của bài luận Triết mà nàng chưa xong, thì chuông đã reo.. . Nhờ vậy, mà hành trình học vấn của Uyên đã đổi thay theo chiều thuận lợi, vì nếu hỏng kỳ đó gia-đình sẽ bắt nàng phải lấy chồng như nàng từng kể cho Hào nghe... 


.Hai người đàn ông bắt đầu trở lại phòng khách, và họ cố giữ vẻ bình-tĩnh, nhất là Hào. Chàng đưa mắt nhìn vào bên trong nhà, qua bức sáo bằng dây nhựa, thấy người đàn bà không còn ngồi nơi bàn may đó nữa, có lẽ bà đã biết được việc gì xảy đến ngoài phòng khách khi hai người đã kéo riêng ra sân nói chuyện. Lòng Hào ngẩn-ngơ như người mất hồn. Thuận thấy sự việc có vẻ nặng-nề hơn so với mấy giờ trước đấu hót vui tươi, nên hắn xin phép ông chủ nhà đưa Hào về, vì đêm cũng đã bắt đầu khuya... Mọi người chào nhau, ông chủ nhà tiễn  hai người ra đến tận xe, rồi vỗ vai Hào với lời an-ủi thành thực của một người biết được niềm đau của Hào ra sao lúc này. Thuận cũng tiên-liệu được những gì đã xảy ra, ban đầu cũng chỉ ngỡ là một sự ngộ-nhận hay tâm tình nhau về câu chuyện xưa mà đáng lẽ ra hai người phải là anh em “cột chèo” nhau, mới đúng. Nhưng nhìn nét mặt nghiêm trang của cả hai người ở tuổi đàn anh mình, thì Thuận biết kính trọng sự đau đớn riêng đó nên không dám đùa giỡn như trươc nữa mà cúi người mở cửa xe cho Hào bước vào. Thuận mở máy, bật đèn pha, rồi hỏi: “Anh còn muốn đi đâu nữa không, em đưa?”. Hào chậm rãi cài dây an-toàn, vừa nói trong giọng buồn tênh như chực tắt trong cổ họng “Cám ơn em, nhưng thôi, cho anh về nhà đi Thuận”. Tiếng còi xe nghe đơn-độc. Thuận nhấn mạnh ga, chiếc xe lao vút  trong bóng đêm. Con đường như thu hẹp lại dần. Hàng cây hai bên có vẻ thấp hơn vì lọn ánh sáng của chiếc đèn pha chỉ chiếu sáng được ở khoảng ngang tầm nhìn.  Một chiếc tàu lửa chạy qua cạnh đó trông rất ít khách vì khuya, hướng về phía City kéo những hồi còi vang lên trong làn sương trắng đục ở một khu phố ngoại-ô, mà chắc hẳn Hào không muốn đến đó lần nữa bao giờ, bởi vì chàng không muốn quá-khứ buồn tủi mà lâu nay, vì một nghịch cảnh nào đó, chàng ngỡ nó đã không có trong ngăn kéo của nỗi đau riêng mình…


Về đến nơi, Hào vào nhà không bật đèn, để nguyên áo quần, giày vớ... ngã vật trên chiếc giường ẩm mốc, nằm ngửa dang tay chân ra bốn hướng rồi thở dài trong bóng đêm thì-thầm rất khẽ với chính mình: “Uyên à, sao em lại làm thế, em không chịu nắm cầm lấy thứ Hạnh phúc trần-gian mà đời và gia đình đã dành sẵn cho em, xứng đáng hơn anh nhiều... “Ở vậy” khi mình có thừa điều kiện trên mức trung bình là một thái độ phản kháng tiêu cực, đồng nghĩa với con đường chông gai cho chính em, vậy em đâu có chiều Bố em, đâu có quan tâm gì đến anh khi anh đành lui chỉ vì muốn em Hạnh phúc, thì coi như công anh đổ biển, em lại làm khổ thêm môt người em từng yêu thương, đâu ích gì . Sao vậy hả?”

Những câu hỏi bâng quơ như thế cứ tiếp nối nói ra với một người không còn nữa trên trái đất này, khiến cho Hào rất mệt, lả người đi, rồi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Sáng dậy Hào thấy mỏi mệt và chán ngán vô cùng, rồi tự hỏi mình: “Sao cuộc đời này nó không chịu buông tha mình, khi mình đã một lần nhường bước nó, rất lâu, vậy mà, vậy mà...Uyên ơi?”

                                                          

Sau này, vì công việc làm ăn, gia đình ông chủ nhà tên Ngôn đã dời lên Tiểu bang nắng ấm là Queenland, thì mọi thứ dường như đã phai dần đi. Nhưng thời gian sau thì Hào được tin Thuận cho hay rằng anh Ngôn đã mất vì bạo bịnh, khiến cho người vợ trẻ tên Kim trở nên cô độc hơn vì dẫu sao, cô ra đi được qua Úc là nhờ vào công sức của người chồng lớn hơn cô gấp bội đứng ra tổ chức vượt biên và đã thành công. Bởi vì trước 75 gia đình Kim là “Đại tư sản” nên bị đánh tơi-bời, không còn gì nữa cả, rồi Bố cô lại mất...nên anh Ngôn là cái phao cứu-tử, ít ra cho chính cô. Chuyện già/trẻ không còn là lý do để Kim lựa chọn như mọi cô con gái nhà giàu lỡ vận khác, thời bấy giờ ...Hào có phôn thăm Kim coi như một người em, và chia bưồn về cái tang của anh Ngôn mà chàng xem như một ân-nhân, bởi nếu không có anh ta, thì Hào vẫn mù tịt tăm hơi về một người, dù chàng đã cố tìm cách nhét vào vô thức với niềm tin sắt đá rằng người ấy sẽ được Hạnh phúc tột đỉnh như ước mơ của những cô gái thường tình thời bấy giờ. Kim hay kể cho Hào nghe về người chị thương yêu của mình gần-gũi nhau như hai bạn tri kỉ hơn là “chị em”vì chỉ chênh nhau có một tuổi . Kim có kể hồi ấy nàng có yêu một Giáo sư như Uyên trước đó, hai người thường dắt nhau Ciné mỗi tuần vì cùng ở chung con phố, điều này dễ làm cho Uyên mủi lòng khi nàng đã xa Hào vĩnh-viễn nên nàng rất tủi thân.Vì vậy sau đó nàng xin được ở nhà mỗi khi cặp kia rong chơi, mà thực tình họ chỉ muốn đem Uyên theo, để nàng nguôi-ngoai vì thấy Uyên ngày càng sa-sút khi cứ tự co mình lại như con ốc, rồi sẽ tan dần trong chiếc vỏ cứng khi mãi gặm nhấm nỗi đau của  riêng mình. Kim cùng người yêu có dắt vài người bạn khác xứng đáng để giới thiệu cho Uyên nhưng nàng chỉ cảm ơn trong lặng thinh và tỏ ý nói xa-xăm: “chị chỉ muốn đi tu” mà hai người dư hiểu vì sao? Kim có tiết lộ một điều làm Hào xót-xa hơn, không phải Uyên đi vượt biên rồi mất tích như anh Ngôn kể lại, vì gia đình chỉ muốn phịa ra như vậy để bớt tai tiếng hơn mà thôi, mà là Uyên quyên-sinh, khi gia đình tan nát, bố mất, Kim theo chồng vượt biên, nhất là nàng biết Hào sau bao chông gai đã sống sót và hiện ở Úc, đang chờ bảo lãnh gia đình ...Trước mọi bít lối vô-vọng con người phải coi cái sống là thừa, là vô ích, mà chỉ là sự chịu đựng thương đau, thì níu kéo cuộc đời này làm gì nữa? ...Thế là sự thực đã đẩy nỗi đau của Hào lên cao thêm một bậc nữa. Chàng lịm người đi, rồi lại hỏi: Như vậy là em đã bội-ước với anh rồi Uyên, nếu em mất tích là lỗi của cuộc đời này, nhưng em tự bứt đời sống mình ra khỏi trần gian thì là lỗi em ...Em học bài “Đạo đức bản thân” trong môn Triết Đạo-đức học do cô Trâm dạy để làm gì mà không biết yêu cuộc sống của mình?Ngày chúng mình yêu nhau ở Sài gòn, em từng nói với anh: Dù sau này tình mình ra sao đi nữa, em chỉ muốn xin anh một điều duy nhất và một lần mà thôi, anh hãy ghi trong hồ-sơ quân-bạ của anh rằng “thân nhân cấp báo” của anh, chình là Uyên cùng địa-chỉ nhà trọ của em khi đang đi học ở đó, thay vì anh đã ghi “không có ai” và anh chỉ mang một tấm thẻ bài duy nhất trên cổ với dụng ý khi chết anh chỉ được chôn ở Nghĩa trang Quân đội mà thôi, nơi dành cho những ai không thân nhân nhận lãnh, thay vì hai tấm thẻ như người ta bình thường ...Vậy là, em đã từ bỏ vai trò tự nguyện làm “thân nhân” của anh rồi, dù tình cảnh đôi ta bây giờ có đổi thay thực, nhưng không phải vì anh hay vì em mà vì cuộc đời này khắc nghiệt quá, mà anh từng nói với em rằng: Loài người có hai tội ác tày trời, một là tìm mọi cách cản ngăn, chia ly khi người ta đang yêu nhau, hai là người ta không yêu nhau mà cũng tìm mọi cách bắt người ta phải sống bên nhau đến hết cuộc đời, em và anh đã rơi vào trường hợp một...Anh chả muốn trách bất cứ ai, mà chỉ tự trách tại mình không được may-mắn cho nó nhẹ lòng. Nhưng có nhẹ được đâu, mà chỉ nặng thêm, sau khi đã cứ ngỡ rằng em tiếp tục Hạnh phúc vì em vốn đầy ắp những điều kiện hơn anh nhiều. Giá mà anh không đến Úc, giá mà anh không đến căn nhà của một người lạ mà anh chưa hề gặp mặt, và chưa biết tên thì cuộc đời anh sẽ nhẹ-nhàng hơn, hay oan hồn em xui khiến như thế để anh rõ được lòng em chăng? Mình chỉ nên làm con đà-điểu ngu dại trên đời này lúc lâm nguy nó chỉ cứ lủi đầu vào cát để không thấy gì hết , thế là xong, chuyện gì xảy ra, tính sau ...Có một điều, em chẳng bao giờ biết dù xa em, muốn em Hạnh phúc theo ý muốn gia đình nên anh cố quên em, nhưng không hề được toại nguyện theo cái kiểu “Tình ngỡ đã quên đi nhưng tình bỗng lại về”(TCS)mới khổ. Nên, có lần đi làm hãng ủi khi đến Úc ở Surry Hill, anh ngồi trên tàu lửa buổi sáng trời mưa như trút, hốt nhiên anh nhớ tới em dạt-dào, với những lần hành-quân xong anh về Hậu-cứ đóng ở Gò Dầu hạ, thì anh liền xin phép ông Tá Tiểu-đoàn trưởng, vốn rất thương anh, mượn ông cái xe Jeep cà-tàng móp-méo tùm-lum vì từng bị mìn rồi sửa lại, xe mui trần chỉ có cần antène phất-phơ...để anh “”về Sàigòn thăm em. Anh không kịp thay đồ trận đầy bụi đỏ vì sợ mất thì giờ của nhau. Anh chỉ cần chụp vội khẩu Colt 12 rồi nhét vô sau lưng để tự vệ khi cần, xong vội phóng lên xe, mở máy, nhấn ga chạy tuốt, bụi bay mịt mù vì anh cố gắng làm sao nuốt hết đoạn đường 40 km càng sớm càng tốt cho kịp giờ em tan học .... Vậy mà, lần nào anh cũng phải đậu xe trước Văn khoa, dưới những hàng me cao ở đường Nguyễn-Trung Trực mà ngày xưa anh hay lui tới để học hành như em bây giờ. Anh đứng tựa ngoài xe, đội cái nón bord lụp-xụp, phả từng ngụm khói tròn bay cao lộng vào nhau như ngày xưa gác thi với vẻ khoan-khoái vô cùng ...Đúng như lời nhạc của Vũ-Thành An thời còn SV học trên anh một lớp, chưa nổi tiếng lắm, có in bản nhạc lính bìa sau của“Đặc-san Xuân Văn-khoa” với những câu mà anh tiên tri  còn nhớ tới giờ:“Đời lính chiến xa nhà . Dăm ba giờ phép là quí lắm rồi . Trên đường nắng đổ nghiêng-nghiêng...” Sao mà nó như anh lúc này, chỉ khác anh đã là một người lính từ chiến trường, áo quần còn đầy bụi đỏ Tây-ninh... lén zọt về đây chờ em qua những cái nhìn tò-mò và những nụ cười chia xẻ của mấy anh chị em đồng môn của em, vì  biết anh chàng “tiền tuyến” này đang nóng lòng chờ đợi một em “SV hậu phương” nào đó, nơi đây? Bởi vì họ thấy cả xe lẫn người đều đầy bụi đỏ, lon đen, khác với lính thành phố, chỉ mặc đồ ủi hồ và đeo lon vàng khé...đi đón các em của họ mà thôi...Có bữa trời mưa anh ướt nhẹp như chuột, vì xe không mui, em ra, ngồi bên ...vội cầm cái dù bật bung ra, che luôn cho cả tài xề . Anh mỉm cười nói: “Che cho em đi, anh lính trận ngày nào cũng ướt mưa và gội sình suốt, nhằm-nhò gì...” ...Em liếc mắt nhìn anh với cái nguýt dài như dỗi, nói: “Đây là Văn-khoa, không phải mặt trận đâu ông tướng, và  em thương anh là vậy, biết không ?” Vậy mà, sáng nay ở cuối vùng Nam bán cầu rét mướt này, anh thân cu-li xa em vặn dặm, nhìn mưa qua khung cửa kính buồn đến chạnh lòng, nên rút cây bút ra, rồi làm Thơ ngay trên mặt trong của bao thuốc lá, có tên “Lại nhớ mưa xưa”:

 

Mưa buổi sáng,

mà lòng tôi chiều ...?

Ở xa,

nên nhớ thương nhiều đến em ..!.


Trời nào,

gọi là trời quên?

Nhớ nào,

là nhớ thương,

đền cho nhau ?


Một sợi mưa mau,

hai sợi mưa mau,

Sợi nào,

là sợi mưa đau,

 trong lòng? 


Mưa bay,

ướt sợi tơ hồng, 

 Có người,

vẫn mãi nặng lòng,

 thương em ...!    


“Sợi tơ hồng” đã ướt, thì làm sao mình đến được với nhau, hả Uyên? Dù vậy, anh biết mình vẫn còn “nặng lòng” với em là đủ, như Nguyên-Sa từng viết “Chúng ta yêu nhau đâu cần sêu cưới” thì dẫu có chia tay vẫn còn lại tấm lòng...mà em lẫn anh sẽ mang theo đến cuối trời u tối ... 

Dù tự biết bài Thơ này không bao giờ được đến tay em, bởi vì anh chỉ muốn em luôn Hạnh phúc vậy thôi ...Và, anh biết anh chả bao giờ quên được em, thế là toại lòng... Nhờ những cơn mưa ngày xưa mà anh với em bên nhau rong chơi có nhiều kỷ niệm ướt át, nhuốm màu bụi đỏ hành quân anh đã mang về thanh phố khi anh chỉ là người lính biên-thùy nghèo xác-xơ, mà vẫn giữ được tình mình trọn vẹn...Giờ, lưu xứ, nhưng anh vẫn còn nuôi được những cơn mưa đó, thấp thóang với chiếc dù màu xanh dương của em khi tan học có anh bên đời ...dù ngày mai có thể anh sẽ không còn nữa, lính mà, nhưng không bao giờ anh nghĩ tới điều đó, bởi vì anh đang yêu em, thế thôi . Tình yêu làm người ta vượt được mọi khó khăn, rào cản , kể cả cái chết, như thời chinh chiến của anh, nhưng anh đã thua một lần và vĩnh-viễn mất em một lần, mới là điều kỳ lạ... Vừa lúc, đó Hào mơ hồ nghe tiếng hát từ chiếc máy thu thanh của hàng xóm phát ra bài hát nghe buồn thê thảm, như những mũi dao nhọn, đang cắm sâu vào quá-khứ của trái tim mình: “Dẫu bên đời mảnh tình xót-xa ... Phút giây này xao động trong ta ... Bây giờ chỉ còn lại đôi dòng lệ úa ...Còn lại đây trong tiếng thở dài ... Còn lại đây với những đọa-đày ... Khi em về đường tình rẽ đôi ... Hai phưong trời xa biệt mù khơi …”.... Hào úp mặt xuống gối thực lâu, vừa suy tư: hóa ra cuộc đời này được đan kết bằng những dòng nước mắt thầm kín không được ai ngắm nhìn, và cuộc tình nào cũng bắt đầu bằng những nụ cười, để rồi cũng chỉ kết thúc bằng những dòng lệ uá, hay sao, hả Uyên ?!!

 Nguyễn-Tư

Wednesday, 28 April 2021

KHÔNG THẤY MỘT NGƯỜI… ( Nguyễn Tư )

 


KHÔNG THẤY MỘT NGƯỜI…


*Truyện ngắn Nguyễn-Tư


Biên ngồi thanh-thản trên một thanh cây sần-sùi bắc ngang những cọc gỗ trước nhà Thờ, nhưng

cũng đã có nơi mòn nhẵn bởi những tín-hữu đến đây la-cà chờ giờ xem lễ trong 6 năm nay, kể

từ ngày Liên-hiệp quốc thuê hoang-đảo này để thiết lập một trại Tỵ-nạn cho người Đông-dương.

Cha Dominici, gốc người Ý nhưng nói tiếng Việt rất sành vì Ngài từng làm việc cho

Giáo-hội La-mã tại VN khá lâu trước 75, ông cúi thấp người để nói cho Biên nghe một điều có

liên-quan đến tờ báo duy nhất trên hoang đảo này, bằng Việt ngữ nhưng có cái tên tiếng VN là

“Nguyệt-san Tự-do” lẫn tiếng Anh là “Tudo Magazine” mà ông làm Chủ-bút, với dụng ý coi

như là một sinh-hoạt-văn hoá cho hơn mười mấy ngàn người Tỵ nạn chen-chúc nhau trên một

khoảng đất bé tẻo-teo này, mà ngày nào ông cũng nghe những tai-ương từ đồn cảnh sát Indo đưa

qua, không giết người thì cũng trộm cắp, đánh lộn, nấu rượu lậu, đĩ-điếm…Cha lắc đầu ra vẻ

tuyệt vọng và nói:

-Thầy Chú thì coi bộ muốn “xuất” nhiều hơn là khấn-nguyện mình cho Chúa. Tờ báo rất

nhiêu-khê không người trông coi. Người ngoài thì mình không tin, tín-hữu thì cũng có vài đứa

nó phản, đôi khi ăn cắp vật-liệu lăng-nhăng…tiền thu vào thất bát, đôi khi còn lợi dụng Tòa

soạn kín đáo và riêng biệt với các Barracks để tâm-tình. Thực, Cha nhức đầu quá! Thôi thì bây

giờ Cha chỉ còn trông cậy vào các Sư-huynh còn muốn theo đuổi con đường phụng-sự Chúa để

họ cộng-tác với con mà giúp Cha trông coi tờ báo. Con nghĩ sao?

- Dạ, tốt thôi, chứ có sao đâu Cha? Nhưng Cha đã chấm ai chưa, nhất là người Quản-

lý?Còn chuyên-môn thì xin Cha để cho con, có thể cáng-đáng mà giúp Cha được.

- Rồi, có rồi! Cha đã chọn một Sư-huynh mà Cha nghĩ là anh ta làm được. Tính-tình hiền

hậu, ít nói và chăm-chỉ việc Đạo. Chiều nào Sư-huynh cũng đến đây đàm đạo với Cha. Cha nghĩ

là ông ta hợp với con đó, thế làm việc với nhau mới dễ-dàng….

-Thưa, Sư-huynh nào vậy Cha?

- Frère Kỉnh đó con. Cái ông gầy-gầy, cao-cao, tóc quăn tít, ăn nói nhỏ-nhẹ như con gái,

hay ngồi ở thanh gỗ ngang phía sau nhà thờ kìa… Cha sẽ dành cho ổng cái phòng nhỏ trong toà-

soạn hiện làm cái kho vật-liệu, giao cho ông ấy cái chìa khoá là xong, sẵn ổng làm “Ông Từ”

cho Toà soạn luôn, chứ giấy má, máy móc để tùm-lum mà chẳng có ai coi, người ta thường lén

vào ăn cắp vặt, nhất là giấy in báo gởi mua từ trong đất liền mà người ta cứ lấy làm đơn gửi cho

Cao-uỷ, và viết thư liên-miên gửi ra ngoài khắp thế giới với cái trại này hơn 10 người, mà một

người lấy một miếng, thì chết mình rồi! Ý con sao?

-Tốt thôi, Cha. Nhưng còn chuyện ăn-uống của Frère thì sao?

-Ông ấy sẽ về barrack ăn như mọi bữa, chứ sao?

-Cũng được, nhưng hơi bất-tiện, vì hình như ông ấy ở tuốt trên khu I này, mà ổng cầm

chìa khoá kho đi, thì mệt cho con lắm Cha ơi!

-Thôi được, để Cha nhờ một tín-hữu nào đó đến lo cho Frère và con luôn.

-Con thì lo gì Cha? Dân “bụi” mà? Chỉ sợ mấy Thầy Chú vốn sống kín trong tu viện

trước đây mà thôi…

-Thôi, để tính sau. Có mấy con nhỏ trong Ca-đoàn, chắc Cha nhờ tụi nó được. Tụi nó

thường rảnh và biết nấu ăn nữa…nhất là từ khi lên Đảo phải tự lo mọi thứ đâu phải như

bên VN mà cậy gia đình…


2


Biên nghe Cha Dominici nói đến “mấy con nhỏ trong Ca-đoàn”, làm chàng mỉm cười,

vì chàng có quen với mấy nhỏ trong nhóm này, nhiều đứa xinh ra phết, nên nói đùa với Cha:

-Cha lựa cô nào xấu-xấu vậy nghe Cha! Thứ nhất là để cho Frère “tu”, thứ nhì là mấy

đứa như vậy nó mới biết nấu ăn, và rất siêng…chứ đẹp thì đừng mong vì bận theo trai khà-

khà…

Cha Dominici nghe Biên nói đùa như vậy, ông cũng cười theo, nói:

-Kỳ nhỉ? Sao lại đòi gái xấu? Bộ mày muốn theo Frère Kỉnh sao? Nói chơi cho vui chứ

tao nhắm đám Thầy Chú sau đổi đời ở đây, tao chấm mỗi ông đó là đủ tin-tưởng thôi đó

mậy!

-Vậy thì nhất rồi!

Vừa nói Biên vừa đứng dậy chào Cha ra về, mà lo gõ bài cho kỳ báo tới. Cha Dominici

bắt tay chàng và nói:

-Nhớ giúp Cha, vài tháng nữa sẽ có người thay con. Giờ thì có Frère Kỉnh giúp con

rồi….

Biên nói:

-Cảm ơn Cha và hy vọng Frère Kỉnh giúp Cha được nhiều việc ở một nơi tập-trung đủ

mọi hạng người với những tình-cảm và suy nghĩ về đời sống khác nhau. Có người nghĩ

rằng, như vậy là họ đã có một đời sống toại-nguyện lắm rồi. Họ đã thoát được một nơi

mà họ đã tìm cách ra đi, vì ở đó họ phải chịu đựng một thứ cực-hình từ chế-độ đã đày-

đọa họ, nhưng cũng có thể do một người nào đó hành-hạ họ từ gia-đình, trong một thứ

tình-cảm đã tàn phai. Nhưng cũng có người rầu-rĩ vì họ thương nhớ gia-đình, mà họ biết

rằng khó lòng gặp-gỡ trở lại, hoặc họ hối-hận về những thứ tình cảm đã rách nát, về

những điều họ đã bị mất mát như họ đã vượt qua cái Đại-dương rộng mênh-mông, đầy

bão tố…như người thân bị chết trên biển, hay chính những sự mất-mát ngay trong đời họ

bởi những tên hải-tặc, để lại trong tâm hồn họ những dấu ấn không bao giờ nguôi-ngoai.

Họ có thể ngồi trên bờ biển này, mà nhìn về bên kia, qua những giọt nước mắt ăn-năn

với những mệnh-đề thường bắt đầu bằng 2 chữ: “Hồi hay, hồi hay…biết vậy, biết vậy…”

Biên cúi đầu chào ông Cha lần chót, rồi ra về, đổ dốc trên con đường từ đỉnh đồi

xuống lộ chính. Biên tự kiểm lại, coi thử mình thuộc hạng người nào trong những tình

cảm mà chàng đã nghĩ trên kia? Có lẽ, Biên thuộc một người vừa có tất cả những suy

nghĩ đó, nghĩa là vừa bỏ chế-độ, vì chàng là một người lính, bỏ những đày đoạ tâm hồn

vì sau những tháng ngày tù-tội trở về, mọi tình-cảm dấu-ái trong đời bỗng dưng cũng

mỏi-mòn như cái thây hết nhựa sống của một kẻ vô-dụng, nhưng còn cộng thêm cái suy

nghĩ của một người biết rằng mình sẽ sống như thế nào ở nước thứ 3 khi chàng từng

đụng độ với Cố-vấn Mỹ trong chính đơn vị mình thời chiến tranh, mà chàng sẽ nhận làm

quê hương một cách miễn-cưỡng và sẽ gửi nắm xương tàn ở đó cuối đời, trong sự ghẻ

lạnh, đôi khi khinh-bỉ từ người bản xứ. Và chính những niềm đau vô-cùng sẽ hành hạ

Biên suốt đời mà không cần qua những cực điểm như niềm đau ở bên nhà…

Biên trở về toà-soạn, thấy nhiều người Tỵ-nạn đã chen-chúc nhau trên những

chiếc băng làm bằng những thanh cây rừng, đang la-ó chỉ-chỏ khi xem một phim cao-bồi

Mỹ được chiếu trên một chiếc TV công-cộng, đặt trên ngọn đồi trước Toà-soạn. Trên hè

toà báo, trong bóng đêm, một vài cặp yêu nhau đang ngồi tình-tự. Họ nói những lời rì-

rầm trong nụ hôn vội, như sợ những chuyến đi ngày mai sẽ chia cách họ mỗi người mỗi

ngã, mà chẳng bao giờ họ còn được những giây phút nồng-nàn như bây giờ! Ở đây mọi


3


cái đều tạm bợ, kể cả Tình yêu, trong đó có lòng chung thủy của nhau, mà ít ai dám thề-

nguyền…

Biên đút chiếc chìa vào cái ổ khoá đã rỉ-sét, xoay một vòng. Cánh cửa toà-soạn

làm bằng những tấm ván sần-sù bật mở. Biên nghe tiếng những con chuột cống chạy

lung-tung, làm đổ những tấm giấy báo trên một cái kệ. Ở đây chuột và người cùng chia

nhau những bọc gạo Cao-uỷ. Chuột to bằng bắp chân, nhung-nhúc và kêu “ột -ột” như

những con heo nọc đang lên cơn nhảy, lì-lợm như ngườiTỵ-nạn và khoẻ vô

cùng…Thường thì chúng thắng Biên trong những cuộc “phòng-thủ thực-phẩm”, vốn đã

bị hạn-chế cho những người độc-thân như chàng. Biên chỉ có một cái xoong nhỏ bằng

cái tô, móp-méo tùm-lum của ông Chủ-nhiệm cũ đã đi định cư bỏ lại, nấu được nửa bọc

gạo và ăn trong 2 ngày, nếu qua đêm an-toàn không bị lũ chuột tấn công. Sau những bữa

cơm chiều, Biên thường lấy cái ghế dài nơi phòng khách Tòa soạn, lật ngửa, đè lên cái

xoong, và cẩn-thận đặt thêm 3 cục gạch nữa…thế nhưng lũ chuột vẫn lật tung được, và

ngày hôm sau chàng phải nhịn đói! Biên nghĩ huề vốn: Thôi thì, nó cũng có đời sống

như mình, cũng cần miếng ăn, nên an vui ngồi gõ tiếp bàn máy một mình mà quên đi

những bào-bọt của dạ dày…

Biên mở cửa nhà kho, bưng cái máy chữ ra bàn và gõ lách-tách. Nỗi vắng-vẻ ở

toà soạn làm cho chàng suy nghĩ nhiều thứ, nên đánh máy sai hoài….Biên mong Frère

Kỉnh đến sớm, để không khí toà-soạn đỡ tẻ nhạt. Chàng đánh máy bài thơ của một người

lạ, mà Biên biết cô là người con gái tóc dài quê Nhatrang, nơi chàng đã từng trọ học và

cũng nhiều thứ nợ-nần tình cảm không trả nổi, hiện cô làm ở phòng Thông-tin trên Ban

Đại-diện, thường đi ngang qua “Main Street” vào những buổi mai. Mái tóc dài bay-bay,

óng-ả dưới màu nắng vùng nhiệt-đới xứ Indo mà Biên tình cờ bắt gặp vào những buổi

sáng chàng hay ngồi nơi “Quán Nhớ” uống Café trước khi đi làm. Bài thơ tình-cảm,

cũng “tình” như người sáng tác và Biên cảm thấy vui lây…Nhưng vui hơn là sau này

nàng cũng định cư ở Úc có gửi cho Biên bài Thơ ấy cùng tấm hình chụp nàng ngồi trước

“capot” xe xịn với lời ghi chú buồn cười “không phải xe của em đâu nha, mà chỉ chụp ké

xe người ta” …chắc là nàng sợ người ta nghĩ mình mới tới mà đã giàu, trong lúc nhiều

người Tỵ nạn ưa khoe của …với người đồng hương khác, nhất là trong nước làm gợi lên

ý muốn ham giàu nhờ vượt biên dù nguy hiểm vô cùng, mà ai đã trải qua một lần sẽ tởn

tới già…Trong khi đặc-biệt trên các tài liệu của phái đoàn Mỹ đều có ghi câu rất bỉ-thử

khi họ biết tỏng suy tư dễ dãi của những người họ đang phỏng vấn rất kỹ lưỡng dù lúc

nào cũng có thông-dịch viên nhưng kỳ thực chính họ rất sành tiếng VN: “Khi đến Mỹ

đừng bao giờ mơ bạn chỉ cần gieo vài hạt giống mà lại có một mùa gặt” làm vỡ mộng

nhiều người ngây thơ cứ đinh ninh rằng ở Mỹ tiền đô dưới đất mọc lên như nấm tha hồ

mà xài ……

Đến 10 giờ, kẻng trên đồn Police gõ thong-thả báo hiệu giờ giới-nghiêm. Đó là

thời-điểm cho những tên cảnh-sát Indo bày tỏ những thứ quyền-lực mọi-rợ của những kẻ

tự-kiêu, vì tự cảm thấy họ được sinh ra ở nơi cho kẻ khác trú-ngụ trên vùng đất của

mình, dù Cao-uỷ phải trả một món tiền lớn để thuê những mảnh đất đó.

Đám người coi TV trên đồi đã thưa dần, tản về hướng về các barracks, nơi mà

bọn cảnh sát Indo có thể xông vào bất cứ giờ nào, nếu chúng muốn và đánh đập bất cứ


4


ai, mà chúng cần. Biên đã từng nhìn thấy một tên cảnh-sát Indo vặm-vỡ “lên gối” một

người Tỵ-nạn già ốm yếu, vốn là SQ cấp Tá VNCH được chỉ định làm “Barrack trưởng”

- một chức vụ mà ai cũng sợ bị đòn, chỉ vì mở cửa chậm, sau khi hắn đã đạp bung cửa

xông vào. Biên không đau lòng vì ông Barrack trưởng bị đòn, nhưng buồn về thân-phận

của những người bị đòn, nếu hướng về thân-phận của những người bị khinh rẻ vì đã để

mất quê-hương, trong đó có những quân-nhân đã buông súng tức-tưởi như Biên sau lịnh

đầu tháng của tên “Tổng thống 3 ngày” - một thời gian cũng vừa-vặn để hắn đủ tư cách

bán nước, bán sinh-mệnh của anh em, của mấy chục triệu người dân lương thiện miền

Nam…dù mang lon Đại-tướng VNCH nhưng hắn không bị đi Cải-tạo ngày nào và được

kẻ thù cho đi bầu cử tự nhiên được chiếu trên phim thời sự để cho chính bọn Biên coi lúc

đang tù tội…trong khi Biên chỉ cấp Úy lại phải bị gông cùm còn bị tước quyền công

dân, bị lao đông khổ sai, bị đánh đập, bị bỏ đói và bị nghe chửi rủa thậm tệ triền miên,,

Vậy hắn là ai, khi hắn từng chứa người em ruột là Dương Văn Nhựt cấp bực Trung tá

tình báo VC nằm vùng ngay trong “dinh Hoa Lan” của hắn trước 75, và cuối cùng hắn

được VC cho đi định cư ở Pháp bằng máy bay rất thong dong chứ đâu như Biên phải

vượt biển ngụp lặn dưới sình 4 lần mới xong, tốn đôi ba chục cây vàng dành dụm cực

nhọc chứ giàu có gì cho cam ?

Sân TV bây giờ trở nên vắng lạ thường. Biên nhìn ra ngoài thấy ánh trăng mập-mờ

trong những làn sương mỏng ẩm-ướt từ biển thổi vào. Tiếng của vài con cú kêu thê

lương ở bìa rừng nghe buồn thảm-não. Biên dẹp chiếc máy chữ qua một bên, để lấy cái

bàn làm chỗ ngủ như mọi đêm tiện coi sóc toà-soạn luôn thể. Bàn cũng chỉ là những

miếng gỗ không bào ghép lại sần-sù, dính đầy mực in từ chiếc máy quay Ronéo. Biên

lấy một xấp giấy báo làm gối. Từng giọt sương trên mái tôn rớt xuống vì hơi lạnh nghe

lộp-độp trên đầu một chiếc tủ đứng để cạnh đó làm tăng thêm vẻ lạnh-lẽo và cô quạnh

đêm hôm trên hoang đảo này. Biên hít từng hơi thuốc dài vô tận đáy buồng phổi, rồi phà

ra từ-từ, hơi khói tản-mạn trong căn phòng quá nhỏ, bay lên mái tôn rồi dội xuống la-đà

như sương mù…Từng bầy chuột bắt đầu hoạt động kêu nhau chạy loạn-xạ về phía Biên

có đặt xoong cơm. Chàng lấy tay vỗ xuống bàn để đuổi, chúng nín-khe nghe-ngóng, rồi

sau đó lại sột-soạt cạy những hòn gạch đè lên chiếc băng lật ngửa trên xoong cơm bé tí-

teo. Biên bực-bội buột miệng văng tục “Đù ngựa, ngày mai chưa tới ngày ông lãnh gạo

đâu nghe tụi bây!”. Trong lúc đó, nếu có người đi ngang nghe được, chắc họ sẽ nghĩ

Biên đang nói chuyện với một vài người nào đó…Trong nỗi cô-quạnh, con người

thường tạo ra những sinh-động an-vui…như có lần sau này Biên vẫn hay mở TV oang-

oang mà chả phải để xem gì…

Biên khẽ tính nhẩm, dù có Frère Kỉnh hay không có gì, thì chàng chỉ còn làm ở

đây không bao lâu nữa. Bởi vì chàng phải rời đảo để đến nước thứ 3, và chắc hẳn chàng

sẽ nhớ nơi này như một nơi mà chàng đã trải qua trước đây trong bước đường luân-lạc

của đời mình, như đã từng luân-lạc từ bao lâu nay… Chàng nghĩ dù sao nơi này cũng chỉ

là một hoang-đảo thuộc vùng nhiệt đới Á châu, nó cũng còn mang những hơi hướm của

quê nhà. Người Indo tuy xấu-xí đen-đủi, tóc quăn, nhưng những cử chỉ, những nghèo

đói, những cách đi đứng, họ chẳng khác gì người Miên trên xứ sở mình, nơi Biên gởi lại

phần đời của mình trong mười mấy năm trời làm việc. Những rừng cao-su, những bờ lau

sậy, những con suối róc rách, những vạt cỏ tranh, những bầy khỉ đu đưa trên những cành

cây ở bìa rừng, mà Biên đã bắt gặp vào những buổi chiều tàn chàng ngồi hút thuốc một


5


mình phía sau Barrack, làm cho Biên tự thấy mình hãy còn gần gũi quê hương lắm. Biên

tự biết, đó là những hình ảnh cuối cùng mà chàng có được lần chót, y hệt quê hương ở

cách xa chàng lúc đó khoảng 600 cây số đường chim bay, tức là khoảng một ngày xe để

đi từ miền Trung yêu dấu của chàng đến Sài Gòn thân thương…Biên biết những hình

ảnh đó sẽ không được lặp lại trong đời chàng lần nữa, ngoại trừ có một phép lạ nào đó.

Biên sẽ được thay những hình ảnh đó bằng những ngôi nhà chọc trời, bằng những mái

tóc hoe, bằng những cây sồi, cây tùng, cây bách, bằng những tuyết băng…Biên tự nhủ,

dù sao, hiện giờ,chàng cũng đang còn gần quê hương mình, xéo-xéo bên tay trái một

chút….

Ngày hôm sau, một gã đàn ông đến. Dáng người gầy và hiền lành….Gã mang một cái

túi chứa đồ lỉnh-kỉnh và Biên đoán là Frère Kỉnh. Biên chào Frère và chỉ cho ông căn

phòng nhà kho của tòa báo, cùng chiếc chìa khoá trao ông. Sư-huynh có vẻ vui, vì được

một nơi rộng rãi và yên lặng, rất thích hợp cho những vị tu hành, khác với những chiếc

sạp tập thể ồn ào và phức tạp ở các barracks, mà Frère đã ở trước đây. Một ông thầy tu

có thể được xếp nằm cạnh một cô gái điếm ở đây, là chuyện thường! Biên chỉ cho ông

một cái chổi để ông tự quét dọn chỗ nằm với tư cách Quản lý tờ báo đại diện cho Cha

Dominici, như đã xếp đặt. Biên nói, nếu có Frère ở đây thì chàng vui hơn, đỡ phải nhớ

nhà và giúp Biên coi sóc toà soạn mỗi khi chàng muốn lang-thang…Nhiều khi Biên

cũng muốn đi ngủ lang vài bữa cho vui, cũng như trở về barrack cũ của mình, là nơi

Biên chỉ có tên trong danh sách lãnh gạo mà thôi…

Kể từ ngày Frère Kỉnh về “đóng đô” trong cái tòa soạn đó, thì không khí ở đây

đỡ cô quạnh đi nhiều, nhất là những Giáo-dân trong ca-đoàn, những người mà Frère

thường tiếp xúc để sinh hoạt trong những buổi văn nghệ Công giáo trên nhà thờ. Nơi

đây, bây giờ có người ra vào, cũng có một vài bóng hồng thấp-thoáng làm cho toà soạn

nhộn hẳn lên, với những nụ cười khúc-khích, những câu bông đùa, những buổi tập ca,

những tiếng đàn thánh-thót…khác với trước đây chỉ có tiếng ho do nghiện thuốc lá của

Biên, tiếng gõ bàn máy lách-cách, tiếng chuột kêu, tiếng đổ những viên gạch trên nồi

cơm, tiếng dun-dế, và tiếng những giọt nước rơi âm thầm trên nóc tủ…Có những đêm

Biên đi chơi về thực khuya, thấy Frère Kỉnh vẫn còn thức, ánh bạch lạp lập-loè qua khe

hở của chiếc cửa ván ghép mong-manh, Biên buột miệng hỏi thân mật:

-Frère chưa ngủ sao?

Tiếng Frère nói dội ra:

-Chưa anh, tôi còn phải viết một vài bài cho kỳ báo tới có liên quan tới Công đồng

Vatican do Cha Dominici đưa qua, cùng với một bài giảng về Đạo-đức cho Giáo-dân mà

Cha đã nói chuyện ở nhà thờ trong kỳ xem lễ vừa rồi…

-Cha giảng về vấn-đề gì vậy Frère?

-Chuyện “mèo-chuột” gì của mấy người ở khu II, làm Cha buồn lắm, vì hậu quả

rất trầm trọng phải nhờ Cha giải quyết, dù trên Cao-uỷ đã đề phòng việc này bằng cách

nhờ Cha giảng Đạo đức thêm trong những buổi xem lễ, cũng như họ đã chỉ thị gấp cho

“nhà thương Mới” thông-báo bắt buộc mọi phụ nữ trên đảo, dù có chồng hay không đều

phải lãnh thuốc ngừa thai…từ 16 tuổi trở lên…

Biên cười hắt lên và nói:

-Vậy thì mấy ông Cao-uỷ này không rành Văn chương VN!

Frère Kỉnh ngạc nhiên trố mắt hỏi:


6


-Sao vậy anh? Vì trước khi công tác ở đây, họ đều qua một lớp về Văn hoá VN

đấy.

-Đúng rồi, nhưng chắc không học nhiều về ca-dao, nên mới có chuyện Cha

Dominici cằn-nhằn…. Frère còn nhớ về những câu hát ngày xưa của ông bà mình không,

nói về tục tảo-hôn của người mình?

-Anh đọc thử coi. Tôi học về kinh Thánh và Thần học nhiều, nên cũng không rành

mấy về ca-dao VN…

-Như thế này nhé, tôi đọc thử một đoạn cho Frère nghe, coi thử cái thông báo của

nhà thương có trật-lất không nhé:

“Lấy chồng từ thuở mười ba,

Đến năm mười tám, thiếp đà năm con,

Ra đường thiếp hãy còn son,

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng”

Frère thấy chưa? Cao-uỷ đánh giá người Tỵ-nạn ta sai 2 vấn đề quan trọng: Thứ nhất, sai

tới 3 tuổi trong khả năng làm mẹ từ 13 lên tới 16 nhé! Thứ nhì, là dân mình rất “mắn

đẻ”. Toàn chơi năm một! Lấy chồng từ thuở 13 mà tới năm 18 đã “sản xuất” 5 ti nhau

nhé, thì có quán-quân không chứ? Đó là chưa kể cụ tú Xương nhà ta, còn chơi nhanh

hơn thế nữa: “Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi” nghĩa là đầu năm 1 đứa, cuối năm 1 đứa!

Thảo nào, mà không phiền Cha Dominici! Cha đã ở VN 14 năm mà còn chưa rành,

huống hồ các ông Cao-uỷ…?

Frère Kỉnh thích chí cười ồ lên về những điều Biên vừa phân tích một cách hợp

lý, rồi nói:

-Ử nhỉ? Thôi để bàn lại với Cha…hạ xuống vài tuổi nữa cho chắc ăn, Cao-ủy sợ

nuôi thêm con nít mới trên đảo khi ngân quỹ LHQ ngày càng hẹp dần….

Gần mùa Giáng-sinh, không khí trên đảo vui hẳn lên. Trên đồi nhà thờ Thiên

Chúa giáo đèn hoa giăng mắc cũng khắp trên lối đi. Ban đêm nhìn lên khu đồi thấy như

một rừng sao. Giáo-dân lui tới tấp nập, người ngoại Đạo cũng đến đó vui chơi, mà quên

đi những ngày dài chờ đợi. Đôi khi họ cũng tin vảo một phép mầu nào đó đã cứu họ vượt

qua được những cơn hoạn nạn trên biển, hoặc họ cũng muốn cầu xin ơn trên giúp cho họ

được định cư ở một nước thứ 3 sớm hơn mà họ mong muốn. Bởi vì trong những tuyệt

vọng của con người, Đức tin về siêu-hình là cái phao cuối cùng để họ bám víu… Và, sự

bám víu đó, đôi khi các tổ chức Tôn giáo muốn lợi dụng bằng những ưu đãi trần gian,

không hề có liên quan gì tới Niềm tin. Thí-dụ những Giáo hữu, mới được lãnh đồ của

hội này, hoặc hội này chỉ bảo lãnh những tín hữu của họ. Có lẽ những ý nghĩ đó chẳng

bao giờ có trong những lời dạy của Chúa, hay Phật, nhưng nó lại có trong những hội

đoàn đã nhân danh Chúa hay Phật để làm việc có vẻ “Thánh-thiện” đó. Bên phía nhà thờ

Tin-lành dù là đạo Mỹ lại có vẻ nghèo nàn và ít bề-thế hơn, nhưng họ cũng rộn-ràng sửa-

soạn mừng ngày Chúa ra đời. Họ tổ chức những buổi chiều chiếu phim “Charlot” cho

mọi người xem, và dường như họ có ít điều lệ khe khắt hơn những ông Cha. Frère Kỉnh

ở toà-soạn cũng bận rộn hơn những ngày thường, vì Frère có liên-hệ bên ca đoàn ở nhà

thờ, nên có nhiều người đến sinh hoạt với Frère, đôi khi làm chật ních căn nhà kho tòa

soạn, vốn đã nhỏ xíu của Frère. Tiếng đàn Guitare lại rộn lên với những bài Thánh ca

huyền-diệu trong những bè hát nam nữ cao ngất và chấm dứt bằng những tràng vỗ tay


7


của chính họ, rồi những tràng cười cùng lời phê phán những lời hát sai nhịp mà Frère đề

nghị sửa lại….

Biên ngồi ngoài bàn viết để sửa lại lỗi “morasse” cho những bài đánh máy lần

sau cùng, cũng cảm thấy lòng vui hẳn lên, dù chàng chỉ là người ngoại Đạo. Một lát sau,

trong giờ nghỉ giải-lao, đám thanh niên nam nữ trong ca đoàn đổ ra ngoài và nói líu-lo,

trông họ vui vẻ rất trẻ-trung mà Biên thèm khát những tươi mát đó. Họ chỉ hát và hát

trong vòng tay của Chúa mở rộng. Đám ca đoàn bu quanh Biên và hỏi huyên-thuyên về

tờ báo Giáng-sinh sắp tới. Quỳnh, cô bé cùng chung barrack với Biên, chợt hỏi:

-Anh Biên nè, kỳ này có đi dự lễ “Nửa đêm” với em không?

Biên trả lời không đắn-đo:

-Không, bởi vì anh không có Đạo!

Quỳnh dài giọng:

-Chúa là Cha chung của mọi người mà?Anh đi “lạc” đó thui!

-Nhưng trong đó không có anh, bởi vì anh là đứa con ngoại hôn, không được

Chúa thừa nhận. Chúa chỉ thừa nhận những người ngoan-ngoãn và biết hát Thánh-Ca như

em mà thôi!

Giọng chất-vấn, Quỳnh nói:

-Thế, sao anh lại biết yêu bài “Đêm Thánh Vô-cùng” như có lần anh đã nói với em

trên đồi, mà anh bảo anh cảm thấy giống khi anh ở Đà-Lạt ngày xưa?

Giọng thành-thực, Biên nói:

-Thực sự, anh thấy bài hát hay, mà vì bài hát có liên quan tới một kỷ niệm không

thể quên được cũng có, khi anh mới 20 tuỏi như em bi chừ vậy!

Quỳnh, giọng đùa giỡn trong cái nhìn nghiêng, nói:

-Chắc anh đã “phải lòng” một em có Đạo và hát trong ca-đoàn hồi ấy rồi!?

Biên cũng nói đùa:

-Anh không “dám” yêu con gái có Đạo, nhất là người đó có chân trong Ca-đoàn…

Quỳnh ngúyt xéo, vẻ trách móc vừa nũng-nịu, nói:

-Sao vậy? “Đụng chạm” đó nha!

-Anh nói lại là anh “không dám”, chứ không phải “không thèm” yêu, vì người có

Đạo, họ yêu Chúa trên hết, Chúa chiếm hết các ngăn tim, thì anh anh trú vào đâu trong lòng

họ?

Quỳnh trề môi, vẻ phản đối, rồi nói:

-Thôi, nói vậy nghỉ chơi với anh luôn nha! Đùa thôi, chứ nghỉ anh thì em đâu còn ai

để tâm tình vì trong Barrack mình, hầu hết là mấy ông bà Cụ người Bắc khó tính quá bắt

bẻ nhiều điều nhức-nhối lắm, còn mấy thằng choai-choai kia chúng nó ăn nói thô tục, ít

học, có khi mắng em “ngu”, khi em nói ngày 21 là “twenty fìrst” thay vì “twenty one”

như tụi nó khẳng định, như vậy em có sai không anh nhi?

-Anh dốt tiếng Ăng-lê thấy bà, xưa đi học giờ này anh chỉ trốn, nhưng khi làm bài

kiểm tại lớp lúc nào điểm cũng cao, nên ông thầy rất ngạc nhiên nói giữa lớp thằng này

ưa trốn học Anh văn sao nó làm bài ok vậy hả tụi bây ? Cả lớp nhao-nhao giải thích:

thằng này nó khá tiếng Tây mà bài tập thầy cho đều trong cuốn sách dạy Anh Văn bằng

tiếng Pháp của Giáo sư Barat thì nó cứ coi phần tiếng Pháp viết ra tiếng Anh tất ok thôi

thầy ơi…!

-Vậy là anh khôn lõi rồi còn gì, mà em đúng hay sai hả? Nếu đúng em sẽ về mắng

“ngu” lại tụi nó cho hả dạ?


8


-Đúng, vì đó là số thứ tự không phải số đếm đơn vị, nhưng đừng mắng người ta

“ngu” nha, không nên bởi vì người Pháp họ ưa nói “Kẻ nào mắng người khác ngu, thì

chính họ mới ngu” (il n’y a que des imbéciles qui prennent pour les autres des imbéciles)

-Vậy em sẽ học thuộc câu này, về nói lại cho chúng nó biết anh nhà báo mà chúng

rất nể trọng từ lúc anh làm “Barrack trưởng” đã nói chúng nó sai và đừng dùng tiếng

“ngu” với em nữa, cho chúng chừa tật hàm-hồ và hỗn láo, dù sao em lớn hơn chúng nó

và cũng hết lớp 12 rồi chứ bộ …Nhưng nói gì thì nói Noel này anh nhớ về trại, em sẽ

cho ăn chè xôi nước chính tay em nấu nghe chưa! Cứ ôm riết cái toà báo này hả, chán

anh ghê đi. Nay có Frère coi “chùa” rồi đó, “phá-giới” một bữa thử coi! Nhớ nhé, lễ Nửa

đêm! Em chờ, đi lễ với em lần chót nhé! Sẽ không còn gặp nhau nữa đâu mà ham!??

Biên mỉm cười nói cho cô bé vui lòng:

-Ừa, được mà. Khó quá, như bà cụ non, hăm-he hoài!

Quỳnh là một cô gái Bắc đạo nòi, nhí-nhảnh nhất trong Barrack, học hết lớp 12

sau 75, nhưng là một người có tâm hồn nên hay làm Thơ gởi Biên đăng báo. dù Thơ có

vẻ trẻ con, nhưng cũng có những ý nghĩ ngộ-nghĩnh, nên Biên thỉnh-thoảng cũng đưa lên

mặt báo cho vui. Vả lại, nhìn trong Barrack, thấy toàn những ông bà già và những thằng

thanh niên ít học quê mùa, lên được đảo là nhờ “canh-me”… nên Quỳnh lại thích nói

chuyện với Biên trong những giờ rỗi. Biên ít nói, sống thầm lặng trong Barrack cho đến

ngày chàng được cái “job” rất hợp với mình trên toà báo, thì Biên ít khi nào trở về trại,

ngoại trừ những hôm phát thực phẩm, thì Biên thường nhờ Quỳnh lãnh giùm, rồi tạt

ngang mà lấy. Quỳnh đi một mình, nên đôi lúc Quỳnh nhớ nhà ngồi khóc sụt-sùi ở phía

sau Barrack, vào những khi chiều xuống. Do đó, Biên đề nghị với Quỳnh nên sinh-hoạt

trong Ca đoàn trên nhà thờ để nguôi-ngoai, vì Biên biết Quỳnh là người có Đạo, và có

giọng ca thiên-phú khi Quỳnh hát cho Biên nghe bài “Sombre Dimanche” lời Việt do

Phạm-Duy dịch lại đã lâu, vào một buổi chiều đi chơi với Quỳnh ngoài đồi phía sau nhà

thờ. Giọng của Quỳnh ấm, hơi “nhựa” một chút, nên nghe rất thiết-tha. Buổi chiều đó

Quỳnh không được vui, nét mặt ra vẻ nghiêm-trang. Tóc Quỳnh dài được cột gọn bởi

một sợi nylon màu xanh lấy từ tấm bạt của Cao-uỷ. Quỳnh không đẹp lắm nhưng Biên

yêu nét mềm mại, rất hồn nhiên của một người có tâm hồn như chàng. Biên ngồi trên

hòn đá đầy rêu khô, Quỳnh ngồi cạnh bên, trên đôi giép nhựa, mắt mơ màng nhìn ra biển

xanh. Biên chợt hỏi Quỳnh:

-Sao em lại chọn một bản nhạc buồn như vậy để hát ở nơi này?

Quỳnh lặng thinh cúi xuống, rồi thở dài, nói:

-Vì em thích nó từ những ngày còn ở Việt Nam và hôm nay có phải là ngày Chúa

nhật, không anh?

Biên gật đầu, nói:

-Đúng, ngày của Chúa, mà em?!

-Cũng là ngày của em nữa! Anh không hiểu nổi đâu, anh Biên!

“Sombre Dimanche” (Chủ nhật buồn) là tên của một bài hát. Đó là ngày có một người khóc

than bên quan tài của một người đã chết…Bài hát đã làm cho không biết bao nhiêu người

lãng-mạn nhảy lầu, khi bản nhạc đó được hát lần đầu tiên trên một đài phát thanh Bắc Âu…


9


-Họ không lãng-mạn đâu anh! Họ có cái lý của họ, như em có cái lý của em, khi

em chọn hát bài đó trên đồi này, đúng ngay vào ngày Chúa nhật, lưu-lạc bên anh. Thực lòng,

em xin lỗi, vì em đã làm anh không vui trong cuộc đi chơi đồi này, nhưng…

Rồi Quỳnh tiếp:

-Em không có cái may mắn, dù đau thương, để được ngồi bên quan tài của người

yêu mà khóc như trong bản nhạc đâu anh! Em ở xa người đó vô cùng, anh ấy là một SQ Dù

cải-tạo như anh, lúc em vừa tròn 18 tuổi…trong cái giọng chùng xuống rất nghẹn-ngào …

Biên cắt đứt dòng suy nghĩ của Quỳnh bằng một câu hỏi khác, bởi vì chàng biết Quỳnh

đang rơi vào chiếc lỗ hổng của quá khứ, chỉ làm cho nàng quay cuồng trong cơn buồn

điên dại mà thôi…Biên hỏi:

-Em đến đây được bao lâu rồi nhỉ?

Quỳnh tính nhẩm, rồi nói:

-Em đến sau anh mà! À, em vẫn còn nhớ cái ngày ấy anh làm “Barrack trưởng”,

chỉ chỗ cho em nằm cạnh cái cửa lớn ra vào, rồi nghĩ sao đó, anh lại đổi chỗ đó cho một

thanh niên khác, em nằm chỗ kín đáo hơn ở gần cụ Lãm…

Biên mỉm cười, nói:

-Mới đó mà mau em nhỉ? Giờ anh cũng sắp ra đi rồi!

Để tránh không khí buồn bã từ những suy nghĩ quá khứ Quỳnh, Biên hướng câu chuyện

có vẻ vui hơn, bèn hỏi:

-Đố em biết tại sao, lúc ấy anh lấy quyền “Barrack trưởng” để đổi chỗ nằm cho

em? Nói đúng thì được thưởng, mà sai thì bị phạt…

Quỳnh cười tươi, nói:

-“Thưởng” gì, và “phạt” gì mới được chứ?

-Tùy người thắng đề nghị.

-OK, nhưng thôi được. Bắt đầu nhé!

Quỳnh tủm-tỉm cười, giọng tinh-nghịch, nói:

-Để cho em nằm cạnh sạp anh, chứ gì?

Biên cười phá lên, phản đối:

-Úi xời! Mặt mũi anh thế này, đâu mà có ý tưởng“tồi” vậy cưng? Em nằm sát

cụ Lãm chứ đâu có gần anh nhiều. Vả lại, anh hay lên toà soạn nằm hoài, nhường quyền cho

Barrack phó, vì anh có việc mới coi như làm Công-vụ, em không thấy sao?

Quỳnh cười sung-sướng, vì thấy mình “trêu” được Biên. Rồi nàng lắc đầu, nói:

-Thế thì em chịu!

-Cho em thêm một cơ-hội nữa đó. Thua là thọ phạt liền đấy nhé!?

Vờ suy nghĩ, trong nụ cười Quỳnh nói:

-OK, tại vì chỗ đó trống quá, không thích hợp cho một người con gái gầy đét

như em nằm?

-Mới đúng 50%, còn lại 50% nữa, gắng lên cưng!

-Cho em khỏi lạnh vì gió biển.

-Giống như câu trên …sắp bị phạt …50% rồi đó nha!

-Em thua!

Quỳnh mỉm cười chăm-chú nghe Biên giải thích:

-Sở dĩ như vậy, vì anh sợ em sẽ bị đòn te-tua bất tử, nếu em nằm gần cửa lớn,

khi bọn cảnh sát Indo, tên nào cũng như trâu cuôi, tông vào đột xuất, đụng ai đánh nấy,

bất kể phụ nữ, ông già…Thà mấy thằng thanh niên vai u thịt bắp đó, lỡ có bị đấm cũng


10


không sao, chứ em thì chắc sẽ nằm một đống như cái mền, thân gái dặm trường” ra đi

một mình mà như rứa tội nghiệp!

Quỳnh thấy Biên nói có lý, nên cười, nói:

-À ra thế? Anh là một “Barrack trưởng” nhân-đức, đầy kinh nghiệm và biết

nhìn xa …

-Anh vốn là SQ tác chiến dưới tay có cả trăm lính mà em, trong bài “Lãnh đạo

chỉ huy” bọn anh luôn được dạy rằng “Chỉ huy là phải biết tiên liệu” để đối ứng với tình

thế bất ngờ …Rồi, chịu phạt chưa?

-Dạ chịu, nhưng đừng giống Cảnh-sát Indo nha, em sẽ thành cái mền rách

ngay!!

Biên cười vui-vẻ, ra lệnh:

-Không đâu, nhẹ thôi, nhảy một vòng cò-cò đi cưng!

Quỳnh đứng dậy, vuốt mái tóc gọn, rồi nhảy cò như chơi “đánh ghi” thời bé ngày xưa thôi,

một vòng xung quanh Biên, trông nàng trẻ thơ vô cùng. Biên đứng dậy ôm Quỳnh vào lòng, hôn

nhẹ trên mái tóc nàng. Quỳnh cảm động, mắt long-lanh trong hơi thở nói lí-nhí gì đó, rồi hai

người nắm tay nhau đi xuống chân đồi…?

@

Đám ca đoàn tiếp tục vào phòng Frère để tập hát đợt 2, mãi đến khuya mới xong. Quỳnh

chào Biên bằng cái ngoắt tay qua lại, rồi nhắc về buổi lễ “Nửa Đêm” có chè xôi nước tự tay

nàng nấu trong vài ngày nữa. Biên nói “ừa”, và khoác tay chào tất cả đám thanh niên nam nữ

trong ca đoàn, bên sự tiễn đưa của Frère Kỉnh nơi cửa toà soạn…

Hàng ngày, Frère Kỉnh được một người con gái tín-hữu do Cha Dominici phái tới để lo

cơm nước cho ông. Nàng có vẻ quê mùa và xấu gái, Biên mỉm cười và nghĩ: không lẽ Cha

Dominici lại tin những lời chàng nói đùa hôm nọ hay sao? Chàng đề nghị là Cha nên gửi tới một

cô gái xấu-xấu để việc bếp núc được tốt đẹp và điều quan trọng hơn là để Frère Kỉnh tu hành, vì

thực ra các Thầy Chú bấy giờ hoàn tục hơi nhiều trong nước, kể cả khi bước lên trên đảo, từ sau

năm 75! Nương, tên người tín hữu đó, cục-mịch, răng sún ở hàm trên. Tay chân đen và thô , lại

hay thích mặc quần xà-lỏn cho mát…Biên thấy những ngày đầu cô làm việc chăm chỉ, lúc nào

cũng lo cho Frère đầy đủ về cơm nước. Một tiếng “thưa Phờ-re”, 2 tiếng “thưa Sư huynh”. Mỗi

ngày lo tươm tất 3 bữa ăn, mãi đến chiều mới trở về barrack của nàng ở tuốt dưới khu I. Biên

nghĩ chắc hẳn phải là người ngoan Đạo lắm, Nương mới lo cho Frère chu đáo như vậy. Frère

thường làm việc trong nhà kho, chỉ kê một cái sạp gỗ cho một người nằm và một cái bàn viết

nhỏ, bên cạnh một cái kệ để đầy giấy in, băng keo dán gáy báo, và giấy “stencil” đánh máy để

quay báo “Ronéo” mà thôi…Nên mỗi khi Biên cần gì, đều phải gõ cửa để vào lấy. Mỗi ngày,

Nương được phép vào phòng Frère vài lần để quét dọn, bưng thức ăn cho Frère…. Frère làm

việc rất cẩn trọng, nhất là về tiền bạc sổ sách. Thỉnh thoảng Cha Dominici có cỡi xe Vespa qua

toà soạn đưa bài cùng thăm viếng Frère và Biên, những khi như vậy Cha khen ngợi ban biên-tập

hết lời…

Đặc biệt trong những lúc sau này, tức là khoảng thời gian Frère Kỉnh sắp đi Canada thì

ông có vẻ buồn lại càng ít nói hơn, và Frère cũng thường khen những bài thơ của Biên, và một

số tác giả khác trên Đảo làm đăng trên báo có màu sắc trữ-tình và rất thực nên Frère rất thích.

Trái với Cha Dominici hay khuyên ban biên tập hãy cứ đặt mạnh chủ đề “Niềm tin Thiên Chúa”

và “Đạo đức bản thân” vào…Biên chia xẻ được những điều đó với Frère, bởi vì thấy Frère hãy

còn quá trẻ. Lâu nay trong nhà Dòng Frère chỉ được nghe Kinh Thánh với những lời Chúa phán,


11


thì làm sao Frère không khát-khao những niềm rung cảm về “Đời” như một bài thơ tình, một

cuốn sách lãng-mạn, một bức tranh đẹp, một mái tóc dài bay… mà bản năng tự nhiên của con

người ai cũng có, khi bắt đầu trưởng thành?Những khi chiều xuống công việc, ăn uống đã xong,

Nương đã trở về Barrack cũ của mình, thì Biên thấy Frère ra hiên toà soạn, đi qua lại hai tay

vòng trước ngực có vẻ suy tư, miệng thì thầm điều gì, mà Biên áng chừng là Kinh Thánh, nhưng

không phải vậy, khi Frère đến gần nơi Biên ngồi phía trong toà soạn cạnh cửa ra vào, đó là

những vần thơ mà ông ấy thích đã in trên báo Tự do…nhất là những bài thơ của Biên làm, vốn

rất bùi ngùi về nỗi nhớ quê Hương trong những nhân vật nữ mà Biên từng quen biết…hay

những trầm luân của đời lính trận và tù …như bài: “Nơi café Hải-âu”

Buồn,

phai mái tóc trên đầu,

Buổi chiều,

ngồi quán Hải-âu,

nhớ nhà…

Tay em năm ngón,

ngọc-ngà,

Nâng ly sữa,

ngọt đời ta sông hồ!

Vốn xưa,

lính trận dưới cờ…

Đánh đông,

dẹp bắc… bao giờ nghỉ-ngơi?

Buổi sáng,

hành-quân ven đô,

Trưa qua Trảng Lớn,

chiều vô bưng-biền…

Thế rồi,

vận nước đảo-điên,

Anh-hùng mạt-lộ,

sa miền lao-lung!

Khổ sai,

tủi nhục vô-cùng…

Thoát thân,

tìm sống mịt-mùng…nơi đây…?


12


Gặp em,

trên hoang-đảo này,

Chút tình tri-ngộ,

cũng đầy chênh-vênh…

Lỡ mai,

ước mộng không đền,

Thì,

xin người,

hãy lãng quên muộn-phiền!! (Galang 82)

Hay bài: “Đường trưa” làm cho một cô SV Nha-khoa năm cuối ở SG, gốc người Vĩnh-long, đã

chữa răng cho Biên ở “Nhà Thương Mới”, mà chàng từng hăm-he đùa: “Chữa sao mà khi xa

đảo này tôi không còn nhớ đến em nữa đó nha!” làm nàng bật cười đáp lại một câu không thiếu

vẻ thông-minh: “Vậy thì em đâu có ngu… khà… khà”.. Thế mà, sau khi đến Québec, nàng đã gửi

cho Biên một tấm hình chụp ở một vườn Hoa rất xinh-xắn, phía sau ảnh chỉ ghi : “Hy vọng là

răng anh đau lại nha!”

Em về trên đường trưa,

Điệu buồn theo chân bước,

Một mình qua dốc nhỏ,

Trời lưu-lạc buồn chưa ?

Đôi mắt sáng long-lanh,

Nụ cười hoa trong nắng,

Những ngày em áo trắng,

Còn đâu Sương Nguyệt-Anh…?

Một lời thăm muộn-màng,

Cho cuộc tình …rất nhớ,

Một lời thăm không gửi,

Cho chiều buồn lang-thang…

Em đi, mái tóc trễ-tràng,

Mang theo một thuở son vàng đã xa…!

Đường trưa, em bước mau qua,

Nắng ơi, nắng nhớ quê nhà hay không? (Main st./Galang 82)

Và, bài “Nỗi lòng hoa cúc” mà Biên sáng-tác ngay trong thư-viện sát cạnh Tòa soạn, lúc chàng

ghé qua đó ngồi đọc sách, cũng ưa “tám” với Cúc là Quản-thủ thư-viện này, thường qua Toà

soạn xin báo về cho bà con đọc. Cúc có mái tóc rất dài và đôi mắt ướt như lúc nào cũng chực

khóc, và mỗi khi chiều xuống Biên thường thấy nàng hay ra hàng hiên Thư viện ngồi một mình

trên chiếc băng dài để sẵn, thỉnh thoảng gió biển thổi bay-bay mái tóc nàng tung lên rất đẹp,


13


nàng ưa nhìn mông ra đồi cỏ tranh cạnh đó, rất lặng lẽ, chắc là đang nhớ nhà …Bài này ngắn

nên Frère đọc ít sai, hay là do lúc nào cũng nghe Frère khen mái tóc Cúc mà trong Tu-viện ông

chưa bao giờ thấy, ngoài những mái tóc của mấy bà Xơ trùm kín đầu đi ngang qua chăng?:

Em ngồi xõa tóc buông lơi,

Nghe chiều rớt-rụng trên đồi cỏ tranh …

Ngoài kia, nắng lụa vàng hanh,

Trong này, nước mắt cũng đành rưng-rưng…

Quê em, xa lắc ngàn trùng,

Nỗi thương, cơn nhớ …chờ mong một ngày …?

Rồi mai, em bỏ nơi này,

Lấy ai, nhìn nắng chiều… phai trên đồi …? (Galang Library/82)

Dù là một người tu-hành, nhưng ai cấm được họ thưởng ngoạn những nét đẹp Văn chương,

Nghệ thuật mà một tâm hồn nhạy cảm ai cũng có thể có được, nhất là những người lâu nay bị

chèn ép hạn chế vì lý do tu hành, thì đây là cơ hội để nó bùng phát bản năng tự nhiên nhất của

một sinh-vật bình thường, miễn là họ biết tự mình nên làm gì và không nên làm gì với Lý tưởng

đã chọn mà thôi..Những điều đó, tự nó không phải là điều xấu, nhưng nó lại không thích hợp

cho một kẻ tu hành đã khấn nguyện cuộc đời mình cho Chúa từ bé. Thỉnh thoảng, Biên dưới phố

về, có thấy Nương cầm cái chổi và miếng bìa hốt rác trong phòng Frère với vẻ mặt không được

bình thường, tự dưng Biên có một ý nghĩ khác đi về Nương. Nhưng Biên cũng cố trấn tĩnh lại,

vì tự cho mình đã diễn-dịch một sự việc dưới con mắt của một người trần. Biên tự cảm thấy

mình có lỗi nhiều với Frère Kỉnh, một người mà chàng vẫn luôn chia xẻ và kính trọng như

những người đang tu hành khác. Biên vốn không có cái nhìn khe-khắt đối với mọi người, bởi vì

chàng nghĩ: ai cũng là con người đầy “hỉ nộ ái ố” với những đòi hỏi tầm thường của nó…Người

tu hành chỉ là một người bình thường ở một mức độ gìn giữ phần Đạo đức cao hơn, dài lâu hơn

phần Đời mà thôi! Họ là những người nhờ Niềm Tin vào Đấng siêu hình mà đè bẹp được những

cám dỗ vật chất chung quanh, khi một người khác có thể đi qua bình thản một cách thường

tình… Người ta cũng chẳng dị nghị gì khi thấy Frère Kỉnh cùng đi tắm biển với Nương, bởi vì

người ta tin nơi con đường mà Frère đã chọn và đang tiếp tục, là cống hiến cuộc đời mình để

phụng sự Chúa. Biên đã nói cho Quỳnh biết về những suy nghĩ này, với tư cách một người

ngoại Đạo, thì Quỳnh có vẻ phản đối theo quan điểm của người Công giáo. Biên cũng thấy

Quỳnh đúng, nhưng chàng vẫn thấy áy-náy trong lòng. Có lẽ vì Biên đã nhìn sự việc của những

người Thánh thiện dưới con mắt người trần tục chăng? Điều đó có thể đúng và Biên xin lỗi

Quỳnh, bởi vì chàng là người ngoại Đạo không thể nào hiểu nổi về những việc thuộc về Đức

Tin.

Rồi đến một ngày Frère Kỉnh rời đảo. Bên nhà thờ cũng như bên toà soạn, nhất là anh chị em

bên Ca-đoàn, vốn có liên hệ mật thiết với Frère đã tổ chức những buổi tiệc tiễn đưa, nhưng

dường như Frère không được vui, bởi vì tâm trạng của những người ra đi bao giờ cũng đầy rẫy

những bịn-rịn, nhất là một người nhiều liên hệ với những người ở lại như Frère. Biên đại-diện

cho toà soạn, cùng một số anh chị em bên nhà thờ, trong đó có Cha Dominici xuống tận bến tàu

để tiễn Frère Kỉnh, một người đã có công rất nhiều với nhà thờ và tờ báo. Mọi người đứng xung

quanh Frère, chúc ông lên đường bình yên và phụng sự Chúa tốt nơi đất mới. Frère cảm động

ngỏ lời cám ơn và siết tay mọi người. Riêng đối với Biên, Frère siết tay rất lâu, tay kia vừa vịn

lên vai chàng với đôi mắt buồn chưa từng thấy. Dường như đã có chút nước mắt long-lanh ở


14


khoé mắt của người đã ở bên cạnh Biên những mấy tháng trường trong cái Tòa soạn chỉ có

những tiếng chuột cạy nồi ban đêm. Biên đã kể cho Frère nghe thực những gì mà chàng đã chạm

mặt trong đời sống ở tuổi thanh xuân, thí dụ những ngày lính tráng của một người thanh niên

trong cảnh đao binh như chàng, và đau đớn trâu ngựa hơn là những ngày tù tội, mà Frère không

bao giờ mường tượng nổi. Điều làm Biên quí trọng Frère nhất, có lẽ là những giọt nước mắt của

Frère khi nghe chàng nói về nỗi khổ đau của một người tù cải tạo. Frère nói Frère xấu hổ khi

nghe Biên kể về những điều đó, mà Frère không ngờ đến được, vì Frère cũng là một người

thanh niên Việt Nam như Biên, chênh-lệch nhau không bao nhiêu tuổi sống chung ngay trên quê

hương điêu-linh mình, suốt những tháng ngày lửa đạn…Biên là người ngoại Đạo, nên chàng

chẳng có liên hệ gì với vai vế của một Sư huynh như Frère, vì vậy Biên chỉ có liên hệ duy nhất

với Frère về “Đời”, gần-gũi hơn, là một người cùng làm chung một tờ báo. Trong lúc Frère có

những suy tư với mặc-cảm mình thiếu công bằng với Biên và những người cùng thế hệ khác thì

Biên chỉ nói an-ủi ông rằng: Mỗi người một bổn phận, mỗi người một công việc, miễn mình làm

hết chức năng của mình là được rồi, với giọng đùa cợt Biên nói vui-vẻ, tôi có bổn phận “bóp

cò”, Frère có bổn phận “đọc kinh”vì ông được nhà nước cho hoãn-dịch vì “lý do Tôn giáo” hợp

pháp, không việc gì ông phải mặc-cảm lôi-thôi, ngoại trừ ông vào tu để trốn lính, hết chiến tranh

ông “xuất” để cưới vợ như nhiều người, thì chả nói làm gì …

Frère nhìn Biên thực lâu, rồi ông bước xuống tàu một cách vội-vã, như không muốn

chào ai nữa cả…

Khi mọi người đã lên tàu xong, viên Thuyền trưởng ra lệnh nhổ neo trực chỉ Singapore,

rồi từ đó các thuyền nhân sẽ được nước nhận họ đưa đi định cư vĩnh-viễn tứ xứ. Con tàu hụ lên

những hồi còi dài tiễn biệt và từ-từ rời bến, giữa những cái ngoắt tay của những người ở lại với

những giọt nước mắt rưng-rưng bên này yêu dấu…

@

Biên đến bên Quỳnh, cũng là người trong Ca đoàn đi tiễn Frère Kỉnh, mắt nàng đỏ hoe. Quỳnh

có vẻ ngạc nhiên về những giây phút cuối của Frère Kỉnh dành cho Biên. Nàng chợt hỏi:

-Dường như Frère mến anh lắm phải không, vì em thấy Frère đặt tay lên vai anh thực

lâu với đôi mắt đỏ hoe?

-Anh cũng không biết nữa. Bởi vì Frère rất ít nói, chỉ có vài lần Frère khen những bài

Thơ của anh đăng trên báo, làm Frère cảm động cùng thích thú, và những giọt nước mắt của

Frère khi nghe anh kể vời đời lính anh bị thương mấy lần và đời tù khổ nhục đến 6 năm khi anh

chưa tới 30 tuổi…mà Frère coi như đó mới là giá trị thực của đời sống…Nhưng em có thấy một

điều gì khác lạ trong buổi đưa tiễn này không?

-Thấy Frère buồn quá và có vẻ quyến-luyến anh hơn bất cứ một tín-hữu nào khác…

-Có một điều lạ hơn thế nữa!

-Em không thấy.

-Trong buổi tiễn đưa hôm nay, có thiếu đi một người…!?

Trời nắng gắt phả trên mặt lộ nhựa đen khín, đã bắt đầu nhão ra. Quỳnh bước bên Biên, giọng

bùi-ngùi:

-Người ta khổ với nhau như vậy, sao anh?

-Khổ như ngày Chủ-nhật em hát “Sombre Dimanche” trên ngọn đồi chiều với anh…

-Đừng nhắc nữa anh, em sợ!

-Có những sự thực mà mình không đành lòng quên, vì biết mình không thể quên, nên sợ

sự thực. Người vắng mặt trong buổi tiễn đưa kia, vì họ không dám nhìn sự thực, sự thực

ngay trong lòng mình…


15


-Bởi vì những sự thực nó kinh khiếp quá, nó làm cho mình cứ ngỡ là những cơn mơ!?.

-Mơ, thực ra, chỉ là một trạng thái tự đánh lừa mình, để cố đè bẹp những phũ-phàng đã

xảy ra cho mình trong những phút giây thực nhanh, thực ngắn-ngủi, đến mình còn không

kịp trở tay, khi mình nhận diện được nó, thì mọi chuyện đã tới, đã xong…Buồn quá em

nhỉ?

Quỳnh lặng-lẽ giây lâu, rồi trả lời:

-À, nhưng chừng nào thì anh đi?

-Chi vậy?

-Để em làm người “vắng mặt” thứ 2, và hy vọng là người vắng mặt cuối cùng trên

hoang đảo này.

-Sao vậy?

-Vì em thấy hãi quá, tội quá! Anh cứ nhìn nét mặt của Frère khi ấy, thì thấy à, lúc đó

em muốn bật khóc...Frère chẳng thể nào chào thêm ai được nữa cả. Người đàn bà chỉ

bật khóc thành tiếng khi họ không thể chịu đựng nổi được sự khổ đau, khi đó, em phải

xoay người ra phía sau, cố nén lòng, vì sợ những hiểu lầm, mà thực sự đó chỉ là những

chia sẻ với một người đang gặp khó-khăn, mà không ai biết là lý-do tình cảm…

Biên buồn-bã nói:

-Anh sẽ ra đi trong lặng-lẽ, như từng vào lính ba lần và vào tù một lần mà chả ai tiễn

đưa, khác với người ta lúc nào cũng có thân nhân bên cạnh với những cặp kiếng đen rất bự

để dễ bề khóc lóc khi tiễn người thân vào cõi chênh-vênh mà cái chết đang đợi ở cuối đường

trong nghề lính lẫn “nghề” tù ……vì anh chả có ai đủ thân để làm việc đó và chính anh cũng

không thích chứng kiến những sự chia ly, dù sự chia ly của một người “vắng mặt”….

Vẻ hờn dỗi, Quỳnh nói:

-Điều đó cũng được. Tùy anh!

Rồi nàng đi tách xa Biên ra hơn một tí vừa cúi đầu…Biên hỏi giọng âu-yếm:

-Giận hở?

Quỳnh làm thinh, nàng bước nhanh hơn, và rẽ vào một khúc quanh để về Barrack của mình

trong lặng-lẽ. Biên nói với theo “Thôi em về, để anh lên toà soạn….”

Quỳnh vẫn không có tiếng trả lời. Biên mỉm cười, lủi-thủi bước lên một con dốc đầy bụi đỏ…

Hai tuần lễ sau, Cha Dominici, với vẻ mặt buồn-bã lên thăm Biên ở toà soạn. Cha hỏi Biên

chừng nào ra đi. Biên nói khoảng vài tuần lễ nữa, và chàng xin Cha một Quản lý khác, nhưng

Cha lặng thinh lắc đầu, vẻ tuyệt vọng. Cha nói Cha mới làm lễ cho một người đến Cha xưng tội

chiều hôm qua với Cha về những lầm-lỡ trầm trọng làm Cha rất buồn. Cha cũng nhận được thư

Frère Kỉnh, mà dường như trong đó có những điều làm cho Cha không vui. Cha cũng nói với

Biên, chắc rồi Cha cũng sẽ đóng cửa tờ báo, vì Cha đã hết nhiệm kỳ ở nơi này, và Cha phải trở

về toà Thánh Roma…


Còn khoảng 2 tuần nữa thì Biên đi, nhưng chàng cũng còn kịp thì giờ để dự lễ

“Nửa Đêm” với Quỳnh lần sau cùng, chàng sẽ được ăn những chén chè xôi nước do

Quỳnh nấu, một thứ quà tiễn đưa quen thuộc khi mỗi lần có những người rời Đảo cùng

với bản nhạc “Thuyền Viễn xứ” của Phạm Duy được ban Thông tin của Ban Đại diện cử

lên tha-thiết trên loa phóng thanh nghe rất buồn bã …Món quà “xôi nước” quen thuộc

bởi vì Cao-ủy phát thực phẩm có những bọc đậu xanh và đường khá nhiều, nên xôi nước

là một sáng kiến tiện lợi, truyền thống của những ai khéo nấu. Tờ báo Giáng sinh đã phát

hành, nên Biên cũng rảnh-rỗi phần nào. Toà soạn trở lại âm-u, không có bóng dáng của

những thanh niên trong Ca đoàn lui tới, không còn ánh đèn leo-lét chiếu qua khe cửa từ


16


nhà kho của Frère Kỉnh trước đây, không có sự ra vào chăm-chỉ của Nương mỗi ngày,

chỉ còn lại mấy chiếc máy chữ đầy bụi, những vết mực in trên chiếc bàn dài. Ban đêm có

thêm những tiếng húng-hắng ho của Biên vì chàng hút nhiều thuốc quá, chen lẫn với

những tiếng lục-cục của bầy chuột khi cố lật những tảng gạch dằn trên cái xoong cơm

nguội. Trong cơn mê ngủ, Biên thoáng thấy mái tóc của Quỳnh bay-bay với tiếng hát

trầm, nghẹn-ngào từ xa với bài “Sombre Dimanche” trên ngọn đồi chiều phía sau nhà

Thờ vào một ngày lặng gió: “Chủ-nhật buồn đi lê-thê, cầm một vòng hoa đê-mê, bước

chân về với gian nhà, với trái tim còn nặng-nề, xót-xa gì, nhớ thương gì, đã biết mùi

hương chia-ly…Chủ-nhật nào, tôi im hơi, vì đợi chờ không nguôi-ngoai, bước chân

người nhớ thương tôi, đến với tôi thì muộn rồi. .. Chiếc quan-tài khói hương bốc lên như

vạn ngàn lời, dẫu qua đời, mắt tôi cười vẫn đăm-đăm nhìn về người. Hồn lìa rồi nhưng

anh ơi, tình còn nồng…nhắc cho ai biết cuối đời, có một người yêu không thôi…”


*Nguyễn-Tư