Tuesday, 24 March 2020

CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ


CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa và trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt.



*Áo dài Việt Nam qua những chặng đường lịch sử
Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài Việt với hai tà áo thướt tha trong gió đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn cách ngày nay hằng nghìn năm.
Theo thời gian, trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ. Giống như một quy luật, trang phục cũng đi liền với diễn biến của lịch sử, chiếc áo dài ngũ thân vẫn không thể là điểm dừng của trang phục truyền thống Việt Nam.





Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân, hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay vì các loại vải ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80cm. Cổ áo chỉ cao khoảng 2 – 3cm.


Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót. Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi, vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt. Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba. Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp. Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm.


Trong các thập niên 1930 và 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, gấu áo dài thường được may trên mắt cá khoảng 20cm, thường được mặc với quần trắng hoặc đen.

*Những cách tân đầu tiên
Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, nhưng gần như họ chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn. Tay áo vẫn may nối. Nổi nhất lúc ấy là nhà may Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội. Năm 1939 nhà tạo mẫu này tung ra một kiểu áo dài được ông Âu hóa. Áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới. Nhưng cổ áo khoét hình trái tim. Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ. Vai áo may bồng, tay nối ở vai. Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến khoảng năm 1943.



Đến khoảng năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may có eo. Các thợ may lúc đó đã khôn khéo cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân áo trước, để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo. Vạt áo cắt hẹp hơn. Thân áo trong được cắt ngắn dần từ giai đoạn này. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp xuống.
Áo dài được thay đổi nhiều nhất trong thập kỷ 60, áo dài bắt đầu được may chít eo, eo áo cắt cao lên. Gấu áo lúc này cắt thẳng ngang và may dài gần đến mắt cá chân. Nhiều người sau đó còn may áo dài với cổ khoét tròn. Đến gần cuối thập kỷ 60, áo dài mini trở thành thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối, áo may rộng hơn, không chít eo nữa, nhưng vẫn giữ đường lượn theo thân thể. Cổ áo thấp xuống còn 3cm. Tay áo cũng được may rộng ra. Đặc biệt trong khoảng thời gian này, vai áo dài bắt đầu được cắt lối raglan để ngực và tay áo ôm hơn, nhăn ít, mà lại đỡ tốn vải. Tay áo được nối với thân từ chéo vai. Quần may rất dài với gấu rộng đến 60cm và nhiều khi được lót hai ba lớp. Đến những năm 90, áo dài đã trở lại, cầu kỳ hơn, thanh nhã hơn và bắt đầu được bạn bè Quốc Tế nghĩ tới như là một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.
Áo dài ngày nay
Áo dài truyền thống thường được làm từ chất liệu lụa, thổ cẩm, đụi, satin nhẹ nhàng. Nó có kết cấu với phần cổ đứng, cứng. Phần ống tay dài, 2 vạt váy trước sau được kéo dài chấm gót, quần ống rộng, mỏng kéo dài quá gót tạo sự uyển chuyển trong từng chuyển động. Cùng với việc ra đời nhiều mẫu mốt thời trang hợp thời, hợp xu hướng, chiếc áo dài truyền thống cũng dần dần được cải biến cho phù hợp với thời hiện đại. Tuy nhiên, kết cấu áo dài hiện đại phần đa chỉ cách điệu ống tay, cổ và họa tiết hoặc "kéo ngắn" phần tà áo. Dáng áo về cơ bản vẫn đảm bảo 2 tà áo trước, sau. Vì áo dài trót mang hơi thở truyền thống của dân tộc, kèm theo đó là hương vị của sự nữ tính, kín đáo và hiền dịu của người con gái Việt. Vì thế, cách tân áo dài không giống như cách tân các thiết kế thời trang khác. Nó đòi hỏi nhà thiết kế phải thật tinh tế, biến cải hiện đại, tân thời, không làm mất đi nét cổ truyền, không được phạm húy.
Cùng ngắm một số mẫu trong những bộ sưu tập áo dài của các nhà thiết kế trong năm 2013-2014 này:



Thiết kế: Sĩ Hoàng


Thiết kế: Võ Việt Chung


Thiết kế: Công Trí

NGUYỆN CẦU THẾ GIỚI ( Đỗ Công Luận )


NGUYỆN CẦU THẾ GIỚI

Một trăm lẻ năm ngày qua
Dịch tình covid tiêu pha nhiều rồi
Ba trăm ngàn người nhiễm phơi
Mười ba ngàn đã mạng đời tiêu vong.

Tâm dịch Vũ Hán lượn vòng
Lombardy Ý sống trong hãi hùng
Ngập lầy một nỗi đau chung
Mùa xuân nước mắt thổi bùng nạn tai.

Kinh tế suy thoái lâu dài
Du lịch thương mại trong ngoài âu lo
Nước bé cho đến nước to
Ra tay dập dịch hét hò dở hơi.

Dù cho ở tận xa xôi
Nước Mỹ không khỏi dịch thời vạ lây
Cali phong tỏa bao ngày
Niềm đau đếm được trên tay thiên thần.

Đợi chờ sức mạnh nhân quần
Triệu tay nắm chặt ra quân tiêu trừ
Nỗi buồn bất tận thiên hư
Nguyện Cầu Thế Giới phước như độ trì...

Đỗ Công Luận

 Image result for trái tim nhân ái

DÂY KÝ NINH - TRỊ SỐT RÉT



DÂY KÝ NINH - TRỊ SỐT RÉT

Dây ký ninh là vị thuốc dùng để trị sốt rét, trị sốt. Tên khác: Thuốc sốt rét, dây thần thông, bão cự hành, khua kao ho (Lào), bandaul pech (Campuchia), liane quinine (Pháp).
Tên khoa học: Tinospora crispa (L.) Miers., (Menispermum crispum L.)
Thuộc họ: Tiết dê (Menispermaceae).
Người ta dùng thân cây của cây thần thông, tươi hoặc khô. Đây không phải là cây canhkina. Chú ý có chất quinin mặc dù mang tên dây ký ninh, đừng nhầm lẫn.

A.Mô tả cây
Dây ký ninh là một loại dây leo, thân rất xù xì, màu nâu nhạt, dài tới 6-7m hay hơn, mọc rất khoẻ. Lá mọc so le, hình tim, mép nguyên, trông hơi dày, dài 8-12cm, rộng 56cm, cuống gầy ngắn như phiến lá. Hoa tập hợp thành 1-2 chùm ở kẽ lá. Quả chín có màu đỏ, dài chừng 12mm, có một hạt dẹt .

B. Phân bố, thu hái và chế biến
Dây ký ninh mọc hoang tại nhiều tỉnh miền Bắc nước ta như Hà Tây, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ. Nó còn mọc ở Lào, Campuchia, Philippin.
Việc trồng dây ký ninh rất dễ dàng, chỉ cần cắt thân thành từng mẩu dài chừng 10-15cm, trồng nghiêng xuống đất. Mùa nực phát triển rất mạnh. Theo M. Brancourt, trong 24 giờ, thân cây ký ninh có thể dài tới 20-25cm. Mùa rét cây ngừng phát triển.
Thu hoạch quanh năm, hái về cắt thành từng đoạn ngắn chừng 0,5-1 cm, phơi hoặc sấy khô.
Khi tươi, có chất nhựa nhầy, vị rất đắng.

C. Thành phần hoá học
Trong thân L. Beau Quesne đã lấy ra được một ít ancaloit. Một số tác giả cho chất ancaloit đó là chất berberin. Nhưng theo L. Beau Quesne thì đó là chất panmatin. Tỷ lệ ancaloit đó chừng 0,10% so với thân khô. Ngoài ancaloit ra L. Beau Quesne còn lấy ra được một chất đắng với một tỷ lệ 0,60-0,80% tính trên thân cây khô. Chất đắng này đã được xác định là một glucozit không có tinh thể, khó thuỷ phân bằng axit, phần đường có thể là một metyl pentoza, phần không đường cho phản ứng Liebermann.
Trong rễ, nhiều tác giả đã chiết ra được chất ancaloit berberin, chất đắng columbin (chừng 2,2%) và chất picroretin.

D. Công dụng và liều dùng
Tuy gọi là dây ký ninh, nhưng như trong phần hoá học đã giới thiệu không có chất quinin. Mặc dù, trong nhân dân nước ta cũng như một số nước khác, người ta vẫn dùng dây ký ninh để trị sốt rét, trị sốt và làm thuốc bổ giúp sự tiêu hoá như cây canhkina. Dùng dưới hình thức cao, bột, viên. Liều dùng chữa sốt rét: Ngày uống 0,50-l,50g cao dưới hình thức thuốc viên.
Bột thân cây chế thành rượu thuốc hay thuốc ngâm: Bột thuốc ngày uống 2-3g, rượu thuốc ngày 4-8g.
Người ta còn cho súc vật như trâu bò, ngựa ăn bột dây ký ninh trộn với thóc hay ngô, súc vật sẽ ăn khoẻ, lông mượt, cơ thể béo tốt.
Ngoài công dụng dùng trong, dây ký ninh còn dùng đắp hoặc sắc lấy nước rửa các vết lở loét rất có hiệu quả.

Chú thích:
Image may contain: plant, outdoor and nature
Dây thần thông

Ở nước ta còn một loài cây gần giống dây ký ninh, gọi là dây thần thông. Được xác định tên khoa học là Tinospora cordifolia Miers. Thân ít xù xì hơn, lá tròn hình tim hơn, quả dài hơn (2cm). Cùng một công dụng như dây ký ninh.

Image result for cây canh ki na
Cây Canh ki na

Còn cây Canh ki na (danh pháp khoa học: Cinchona) là một chi của khoảng 25 loài trong họ Thiến thảo (Rubiaceae), có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ. Chúng là các loại cây bụi lớn hay cây thân gỗ nhỏ cao từ 5–15 mét với lá xanh quanh năm.
Các lá của chúng mọc đối, hình tròn hay hình mũi giáo, dài từ 10–40 cm. Hoa của chúng màu trắng, hồng hay đỏ, tạo thành các chùy hoa. Quả là loại quả nang nhỏ chứa nhiều hạt.

Các loài cây trong chi này là nguồn của nhiều loại ancaloit khác nhau, trong đó quan trọng nhất là quinin (ký ninh), một chất dùng làm thuốc hạ sốt đặc biệt hữu ích trong phòng chống bệnh sốt rét. Phần quan trọng về mặt y học của loại cây này là vỏ cây, được người ta róc ra từ thân cây, sấy khô và tán thành bột. Như là một loại cây thuốc.


      Ứng dụng lâm sàng của dây ký ninh


Sốt có cơn, rét run, sởn gai ốc, mình mẩy chân tay đau nhức trong người nóng như thiêu, đầu đau như búa bổ, khát, tức ngực, miệng rất đắng, người toát mổ hôi, ướt dầm dề. Mạch đang cơn sốt phù huyền sác, có khi hồng đại sác.


Dây ký ninh mặc dù được ứng dụng khá phổ biến cho mục đích chữa bệnh nhưng bạn cần thận trọng. Trước khi áp dụng các bài thuốc có chứa dược liệu này cần trao đổi với thầy thuốc hoặc bác sĩ. Những thông tin được tổng hợp trong bài viết trên đây chỉ có giá trị tham khảo, không thể thay thế cho chỉ dẫn chuyên môn!

Image result for dây ký ninh

6 ĐIỀU CẢI THIỆN TINH THẦN KHI BUỒN LO


6 ĐIỀU CẢI THIỆN TINH THẦN KHI BUỒN LO

Cuộc sống hiện nay rất dễ khiến mọi người cảm thấy lo lắng. Trong một số trường hợp, lo lắng có thể vượt ngoài tầm kiểm soát. Những cách sau đây có thể giúp kiểm soát phần nào trạng thái tinh thần bất ổn này. 
Đây là những cách được tờ The Huffington Post tổng hợp từ ý kiến của các chuyên gia tâm lý học uy tín ở Mỹ.

1. Hãy chấp nhận lo lắng là điều bình thường
Chúng ta cần thừa nhận lo lắng là điều bình thường và có tiếp tục lo lắng đi nữa thì mọi chuyện cũng không khá hơn. “Việc chấp nhận lo lắng là điều bình thường sẽ giúp chúng ta tránh xa những suy nghĩ vô ích”, tiến sĩ Steven Tsao, nhà đồng sáng lập Trung tâm điều trị lo lắng và các vấn đề hành vi ở bang Pennsylvania (Mỹ), cho biết.


2. Tránh xa internet trước khi ngủ
Việc kiểm tra email, lướt mạng xã hội liên tục có thể khiến căng thẳng, lo lắng thêm nghiêm trọng. Hiện tượng này đặc biệt có ảnh hưởng hơn vào ban đêm.
Do đó, mọi người nên tắt điện thoại khoảng 1 tiếng trước khi ngủ. Cách tốt nhất là đọc sách và nên đọc sách giấy, đừng đọc sách điện tử, tiến sĩ Larry Rosen, giáo sư danh dự tại Đại học Yale (Mỹ), chia sẻ.

3. Giữ thói quen sống lành mạnh

Việc thiếu các thói quen sống lành mạnh như ăn các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe và tập luyện thể thao có thể là nguyên nhân gây lo lắng, căng thẳng. Do đó, tiến sĩ Tsao khuyên rằng nếu đang cảm thấy lo lắng thì bạn hãy kiểm tra lại thói quen sống của mình.

4. Hãy hát lên
Khi bạn thức giấc nửa đêm và không thể ngủ lại vì những suy nghĩ lo lắng, lúc đó hãy tự ngân nga một bài hát hát yêu thích. Các nghiên cứu cho thấy ca hát giúp cơ thể kích thích các chất hóa học làm giảm căng thẳng, lo lắng, theo The Huffington Post.

5. Hít thở sâu
Khi cảm thấy lo lắng, bạn hãy thử ngồi thiền định một mình. Nếu bạn không thể thiền định thì có thể áp dụng cách đơn giản là hãy hít thở đều và tập trung vào hơi thở, đừng để ý đến những thứ đang khiến mình lo lắng, The Huffington Post dẫn ý kiến từ ông Franklin Schneier, giám đốc Phòng khám rối loạn lo âu thuộc Viện tâm thần bang New York (Mỹ).

6. Tìm đến các chuyên gia trị liệu tâm lý
Nếu trạng thái lo lắng, căng thẳng tiếp tục kéo dài khiến bản thân cảm thấy khó chịu thì hãy tìm đến các chuyên gia trị liệu tâm lý. Đây là cách cần thiết giúp sớm lấy lại thăng bằng và khiến tình trạng lo lắng không trầm trọng hơn. 

Image result for tinh thần không vui ành hường trầm trọng

BỆNH DO RĂNG MIỆNG MÀ RA - BS Nguyễn Ý Đức


BỆNH DO RĂNG MIỆNG MÀ RA

Y văn xưa nhắc nhở “Bệnh tùng khẩu nhập” là có ý nói đến sự ăn uống không đúng cách sẽ đưa tới một số bệnh. Chẳng hạn ăn nhiều hơn với nhu cầu sẽ bị bệnh mập phì. Tiêu thụ quá nhiều chất béo động vật sẽ bị bệnh tim mạch. Thức ăn không rửa sạch, nấu chín nhiễm vi khuẩn, siêu vi gây ra ngộ độc thực phẩm, uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá tăng rủi ro ung thư miệng… Nhưng đâu có ai ngờ nhiều bệnh hiểm nghèo cũng có thể bắt nguồn từ răng miệng. Chẳng hạn bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, bệnh phổi, bệnh loãng xương, bệnh thận, bệnh thấp cấp tình, mẹ sanh non, con thiếu ký…

Miệng
Miệng là cửa mở phía trên của bộ máy tiêu hóa, bắt đầu từ cặp môi rồi tới răng, lợi, lưỡi và họng. Miệng có vai trò quan trọng trong sự tiêu hóa thực phẩm. Thức ăn được răng nghiền nát, trộn với nước miếng, thành một khối nho nhỏ, mềm mềm để đưa xuống dạ dày. Ăn chậm, nhai kỹ giúp sự tiêu hóa dễ dàng.
Cũng từ miệng, diêu tố amylase bắt đầu phân hóa ra đường các chất tinh bột trong cơm, trong hạt đậu. Cho nên nhai cơm lâu ta thấy có vị ngọt ngọt ở lưỡi.

Mới sanh, xoang miệng với các mô mềm như môi, lưỡi, vòm miệng, hai bên má đều không có vi khuẩn. Sinh ra, nằm trong lòng mẹ, ngậm núm vú bú những giọt sữa đầu tiên là lúc vi khuẩn bắt đầu xâm nhập vào miệng, nếu mẹ không lau sạch nhũ hoa. Rồi từ đó, với sự ăn uống, chung đụng, vi sinh vật trong miệng tăng dần.
Nhiều người vẫn đinh ninh là miệng mình là nơi vô trùng, sạch sẽ, thơm tho, nhất là sau khi đánh răng, xúc miệng vài lần trong ngày. Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy.
Vì rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trong miệng của ta có cả vài ba trăm loại vi sinh vật thường trực trú ngụ, vãng lai. Có người ví miệng như một cánh rừng già với lúc nhúc cả nhiều trăm tỷ vi khuẩn. Nếu không giữ gìn vệ sinh răng miệng, thì số vi khuẩn trong miệng lên tới cả ngàn tỷ, nhiều hơn ở bất cứ nơi nào trong cơ thể, so với một diện tích nhỏ bé chỉ chứa được nắm tay trung bình.
Vậy thì làm sao mà chúng lại “xâm nhập xoang miệng bất hợp pháp” được như vậy?

Vi khuẩn, virus có khắp mọi nơi chung quanh ta: trong không khí, trong nước uống, trong rau thịt trái cây, trên da, trong cặn bã tiêu hóa. Một số gây ra bệnh, một số khác lành tính, hữu ích. Chúng vào miệng khi ta hé môi hít thở, khi ta ăn uống, khi miệng ngậm ngón tay dơ, hôn người có bệnh.

Thực tâm mà nói, không phải tất cả các vi khuẩn trong miệng đều gây ra bệnh mà chỉ có một số loại. Đó là các vi khuẩn nhuộm mầu dương tính (Gram-positive) Lactobaccillus, Streptococcus mutans, Streptococcus sanguis, Staphylococci, Actinomyces và nhiều vi khuẩn yếm khí, đặc biệt là loại gram-negative bacteroid và xoắn khuẩn spirochet.

Vào tới miệng, chúng chia nhau ẩn náu khắp nơi: khe kẽ răng, nướu, mặt lưỡi, họng. Có loại bám vào răng, có loại bám vào các phần mềm và tồn tại mãi mãi. Chúng sinh sống bằng những chất tiết ở miệng, những sợi thịt cá, những mảnh rau, trái cây nhất là chất tinh bột và đường, vướng mắc ở răng, ở lợi. Chỉ nửa giờ sau khi ăn mà những vụn thực phẩm này không được loại bỏ thì vi khuẩn sẽ bu vào, nhậu nhẹt. Và gây ra tai họa, bệnh tật.

Vi sinh vật nguy hại có thể gây ra bệnh tại chỗ, cho răng miệng hoặc xa hơn, tới các vùng khác của cơ thể, với các nguyên lý khác nhau. Theo nhiều nghiên cứu, các vi khuẩn này sản xuất ra 3 loại độc tố: ngoại độc tố đạm chất hòa tan trong nước có tác dụng như một loại enzym; nội độc tố, một thứ đường-đa polysaccharides nằm trong màng bọc vi khuẩn; và các phế phẩm do vi khuẩn chuyển hóa mà thành, như hợp chất bay hơi sulfur, các chất acid béo acid propionic, acid butyric, acid lactic…

Bệnh ở miệng
Bệnh tại chỗ thường thấy là những bựa răng (plaques), sâu răng (cavities), viêm nướu (gingivitis), viêm nha chu (periodontis).

a-Bựa Răng
Bựa là những màng sinh học phủ trên răng và gồm có cả triệu con vi khuẩn, hợp chất cao phân tử của nước miếng, các phế phẩm của vi sinh vật. Nếu không được lấy đi, các màng này càng ngày càng dày lên và trở thành cao răng (tartar), một lớp cặn vôi khá cứng và là nơi trú ẩn của rất nhiều vi khuẩn Streptococcus sanguis và Streptococcus mutans.

b-Sâu Răng
Trẻ em vẫn thường được cha mẹ nhắc nhở là ăn nhiều kẹo, nhiều đường sẽ bị sâu răng, sún răng. Nhưng thực ra đường không phải là thủ phạm, mà là tác nhân, tòng phạm hỗ trợ cho cho những thủ phạm vi khuẩn. Vi khuẩn tiêu thụ đường (nhất là sucrose) và tạo ra acit lactic và nhiều phế phẩm có độ acit khá cao. Các phế phẩm này ăn mòn men răng. Răng mất dần khoáng chất, trở thành lỗ chỗ. Thêm vào đó, cặn vôi càng dày thì nước miếng không lọt được vào để trung hòa chất chua, bảo vệ răng, răng càng hư hao thêm.

Cũng nên lưu ý là uống nước ngọt sủi bọt (sugared soda pop) lại càng làm răng mau hư hơn. Số là trong nước uống này vừa có nhiều chất ngọt lại có nhiều acid phosphoric, cho nên chất chua tai hại cho răng ở trong miệng gia tăng.
Vi khuẩn Streptococcus mutans là thủ phạm chính của sâu răng, rồi đến Lactobaccilli, Actinomyces và một số vi khuẩn biến hóa chất đạm khác (proteolytic bacteria)

c-Viêm nướu và nha chu
Nướu là lớp mô liên kết đặc và niêm mạc bao quanh chân và cổ răng.
Viêm nướu thường là do các mảng bựa ở mặt răng kích thích, làm cho sưng lên, đỏ, chảy máu và đau. Chữa ngay, bệnh sẽ hết nhưng nếu để lâu, sẽ đưa tới viêm nha chu với hư hao xương ổ răng và răng.
Hút thuốc lá, bệnh tiểu đường, tuổi cao, kém vệ sinh răng miệng, kém dinh dưỡng, khô miệng …là những rủi ro làm nướu bị viêm nhiều hơn.
Nha chu là các mô nâng đỡ, bảo vệ và nuôi dưỡng răng. Đó là xương răng (cementum), một lớp mô mỏng trên mặt chân răng; xương ổ răng (alveolair bone) và xương hàm; màng nha chu (periodontal membrane) và nướu.
Trong bệnh nha chu, các thành phần này đều bị vi khuẩn tấn công, làm hư hao. Bệnh thông thường nhất là viêm nha chu mãn tính ở lớp người trên 35 tuổi. Nướu răng sưng, đỏ chẩy máu, tách xa răng, mủ thành hình ở giữa răng và nướu, miệng có mùi hôi.
Biến chứng của viêm nha chu gồm có răng rụng. bệnh động mạch tim, bệnh tiểu đường, sinh con thiếu ký, tai biến não, bệnh hô hấp…

Bệnh xa miệng
Xoang miệng có liên hệ tới toàn bộ cơ thể. Do đó các bệnh của răng miệng có thể là biểu hiện của các bệnh tổng quát, đồng thời cũng có thể là nguồn gây ra một số bệnh của cơ thể.
Người bị viêm gan do virus thường có các màng trắng nhỏ trong miệng. Bệnh nhân liệt kháng HIV/AIDS hay bị nấm candida trong miệng. Bệnh nhân tiểu đường thường hay bị viêm nướu… Ngược lại, vi khuẩn gây bệnh răng miệng có thể ảnh hưởng vào các bộ phận khác qua sự lây lan vi khuẩn trong dòng máu và độc tố của chúng.

a-Bệnh Động mạch tim
Ngoài các nguy cơ cổ điển thường thấy như cao huyết áp, cao cholesterol, hậu quả của hút thuốc lá, bệnh động mạch tim còn do một số nguy cơ khác gây ra, trong đó có bệnh nha chu.
Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, người có bệnh nha chu đều bị bệnh tim mạch nhiều gấp đôi người bình thường.
Có nhiều lý thuyết để giải thich sự liên hệ này.
Một giải thích cho là vi khuẩn từ miệng lan vào dòng máu, bám vào các mảng chất béo ở động mạch tim, tạo ra máu cục, ngăn cản máu nuôi tế bào tim và đưa tới cơn suy tim.
Giải thích khác nói là những tạo phẩm của viêm nha chu có tác dụng trực tiếp lên lớp tế bào lót động mạch, gây ra sự xơ vữa động mạch này.
Một giải thích nữa căn cứ vào việc người bị nhiễm trùng miệng thường hay bị rụng răng. Không có răng, họ thường tránh những món ăn khó nhai và tiêu thụ món ăn có nhiều năng lượng và chất béo. Mà nhiều chất béo là rủi ro đưa tới bệnh tim mạch.

b-Viêm nhiễm trùng nội mạc tim
Bệnh xảy ra khi vi khuẩn trong máu bám vào van tim bất bình thường hoặc mô tim đã bị tổn thương. Tuy rất hiểm nghèo, nhưng may mắn là bệnh ít khi xảy ra ở người có trái tim lành mạnh. Nhiễm huyết thường là do các vi khuẩn mà cơ thể tiếp xúc trong sinh hoạt thường lệ, đôi khi cũng do vi khuẩn sau các phẫu thuật ở miệng, ruột, cơ quan hô hấp, cơ quan bài tiết nước tiểu.
Việc dùng kháng sinh để phòng bệnh trước khi nhổ răng, cạo bựa răng chỉ áp dụng khi bệnh nhân có các rủi ro về cấu tạo tim, như là có tiền sử viêm nội mạc tim, thay van tim nhân tạo, bệnh tim bẩm sinh.
Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đề nghị là để tránh viêm nhiễm nội mạc tim do vi khuẩn từ miệng, cần giữ vệ sinh răng miệng và đi khám nha sĩ đều đặn theo định kỳ.

c-Bệnh phổi
Vi khuẩn trong miệng có thể được hít vào phổi rồi gây ra các bệnh hô hấp như sưng phổi, đặc biệt là người đang bị viêm nhiễm nướu. Sưng phổi là bệnh hiểm nghèo, nhất là ở người tuổi cao và người mà sức đề kháng suy yếu. Vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumonia, Mycoplama pneumona và Hemophillus influenza, đôi khi các vi khuẩn yếm khí thuộc nhóm Actinomyces.

Bệnh nhân tiểu đường, người nghiện rượu thường bị viêm nướu với các vi khuẩn này rồi hít vi khuẩn vào phổi.
Bác sĩ Nha khoa, Hardy Limeback, Đại học Toronto, nhận thấy rằng người ở viện dưỡng lão ít đi khám nha sĩ bị tử vong nhiều hơn vì sưng phổi.

d-Bệnh tiểu đường
Kết quả nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy bệnh nhân tiểu đường loại 1 thường hay bị viêm nhiễm nha chu hơn là người bình thường vì cơ thể của họ dễ bị nhiễm trùng. Viêm nha chu cũng là một trong nhiều biến chứng của tiểu đường.
Ngược lại bệnh nha chu làm tăng đường huyết và tăng hậu quả xấu của bệnh chuyển hóa này.

e-Sanh non, con thiếu ký
Trong thời kỳ mang thai, có nhiều thay đổi hormon ở người mẹ. Các thay đổi này có thể đưa tới viêm nướu răng mà không cần phải có các mảng bựa răng.

Theo viện Nha Khoa Hoa Kỳ, phụ nữ mang thai mà bị viêm nha chu sẽ sanh con sớm hoặc con thiếu cân bẩy lần nhiều hơn
Bác sĩ Dasanavake AP, Đại học Nha Alabama cho hay, kém vệ sinh răng miệng ở phụ nữ mang thai là một rủi ro độc lập đưa tới sanh non và con thiếu cân, dưới 2500 gr.

Bác sĩ Steven Offenbacher, Trường Nha, đại học North Carolina tại Chapel Hill kết luận là 18,2% các trường hợp sanh non, thiếu ký có nguyên nhân từ các bệnh răng. Do đó hội Nha Chu Hoa Kỳ khuyên phụ nữ dự định có thai nên đi khám răng miệng đều đặn.

g-Bệnh loãng xương
Kết quả nghiên cứu công bố trong Journal of Periodontology tháng 
6 năm 2007 cho hay, phụ nữ bị viêm nhiễm nha chu có nhiều khả năng hư hao xương ở xoang miệng, đưa tới rụng răng, nếu không điều trị.Tác giả nghiên cứu, bác sĩ Renee M. Brennan, Đại học Buffalo, đề nghị bổ sung estrogen để giảm rủi ro này.
Trong khi đó thì nghiên cứu do bác sĩ Brian H. Mullally, Đại học Queens, Bắc Aí Nhĩ Lan, cho hay nha chu của đa số phụ nữ đang dùng thuốc viên ngừa thai đều không được lành mạnh.

Kết luận
Từ năm 1998, Viện Nha Chu Hoa Kỳ đã phát động một chương trình hướng dẫn cho quần chúng về sự liên hệ giữa nhiễm trùng răng miệng với các bệnh viêm mãn tính như tiểu đường, tim mạch, sưng phổi…Do đó, điều trị viêm miệng không những giải quyết các bệnh tại chỗ mà còn giúp điều trị các bệnh liên hệ khác.
Đồng thời, giữ gìn vệ sinh răng miệng cũng rất quan hệ.
Hội Nha Hoa Kỳ nghị những biện pháp giản dị như sau:
- Đánh răng ít nhất hai lần mỗi ngày với kem có chất fluoride
- Thay bàn chải mỗi 3-4 tháng hoặc khi thấy đầu bàn chải tòe ra.
- Dùng sợi chỉ lau sạch kẽ răng để loại bỏ mảng bựa vi khuẩn dính ở đây, mà bàn chải không tới được. Nhiều giới chức y tế coi việc dùng chỉ răng quan trọng hơn là đánh răng với bàn chải.
- Dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ. Giới hạn việc ăn vặt.
- Thăm nha sĩ theo định kỳ để khám rửa răng.
Ngoài ra để tránh vi sinh vật xâm nhập xoang miệng, nên rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn uống, không nên đưa tay dơ vô miệng
Những lời khuyên xem ra cũng dễ làm và cũng không tốn kém gì cho lắm. Thực hiện được, không những tránh được bệnh tật mà còn có hàm răng trắng đẹp, giúp cho nụ cười tươi tỉnh, gương mặt bớt hom hem, dọng nói ít phì phò.
Đúng như các cụ ta vẫn nói: “Cái răng cái tóc là góc con người” vậy.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức


Image result for thức ăn RĂNG MIỆNG

Saturday, 21 March 2020

THẦN Y HOA ĐÀ - THẦY THUỐC ĐẦU TIÊN PHẨU THUẬT GÂY MÊ



THẦN Y HOA ĐÀ - THẦY THUỐC ĐẦU TIÊN PHẨU THUẬT GÂY MÊ


Từ xưa đến nay, nhắc tới Hoa Đà có lẽ không người nào không biết. Bởi vậy, mỗi khi khen ngợi y thuật của một người nào đó cao siêu người ta thường nói đó là “Hoa Đà tái thế”. Thậm chí, người Trung Hoa xưa khi đến chúc mừng thầy thuốc mở phòng khám cũng tặng tấm biển “Hoa Đà tái thế”. Đó là bởi vì họ hy vọng rằng, vị thầy thuốc này cũng sẽ có y đức cao thượng và y thuật cao siêu như thần y Hoa Đà.

Thời Trung Quốc cổ đại, không có siêu âm, chụp CT cắt lớp, chụp XQ, cũng không có chụp cộng hưởng từ. Nhưng các y học gia thời Trung Quốc cổ đại lại có thể dựa vào cảm quan của nhân thể để thu thập tư liệu chẩn đoán bệnh. Cuối cùng, họ cũng thông qua những biểu hiện bệnh lý bên ngoài mà sáng lập ra một hệ thống lý luận về bản chất của bệnh lý – Trung Y học. Trong các danh y thời Trung Quốc cổ đại thì người đầu tiên phải được kể đến là Hoa Đà. Ông được xưng là thiên cổ đệ nhất Thần y.

Vài nét về thần y Hoa Đà
Hoa Đà tự là Nguyên Hóa, tên thật là Phu. Ông là người  huyện Tiêu, nước Bái thuộc Dự châu, là đồng hương của Tào Tháo. Ông sinh ra vào thời Đông Hán, là danh y nổi tiếng thời đại Tam Quốc.

Thời trẻ, Hoa Đà chỉ tập trung nghiên cứu y học chứ không màng đến việc tìm cầu con đường làm quan. Y thuật của ông là toàn diện, tinh thông nhất là giải phẫu, được người đời xưng là “Ngoại khoa thánh thủ” hay “Ngoại khoa thủy tổ”. Ngoài ra ông cũng tinh thông thuật châm cứu.

Khi hành nghề y, ông đã đi khắp nơi từ An Huy, Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô… để chữa bệnh cứu người. Ông từng dùng “ma phí tán” để gây mê cho bệnh nhân rồi sau đó phẫu thuật cho họ. Đây được xem là cách gây mê toàn thân ra đời sớm nhất được ghi chép trong lịch sử thế giới y học.

Ông còn mô phỏng điệu bộ của năm loài thú là cọp, nai, gấu, khỉ và chim để sáng tác ra bộ khí công có tên “Ngũ cầm chi hí” để mọi người luyện tập cho thân thể khỏe mạnh cường tráng.

Về sau này, Hoa Đà bị Tào Tháo giam vào ngục mà chết, cũng vì thế mà sách y học “Thanh nang kinh” của ông đã bị thất truyền.

Mồ côi cha, rời xa mẹ đi tìm thầy học y thuật
Theo sử sách ghi chép lại, Hoa Đà từ nhỏ đã có trí tuệ hơn người, làm việc gì cũng nhanh trí, nhạy bén. Năm Hoa Đà lên 7 tuổi thì cha của ông qua đời, gia cảnh vô cùng khốn khó, túng quẫn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.

Mẹ ông không còn cách nào khác đành phải bắt ông đi cầu khẩn người bạn thân của cha ông khi còn sống là thầy lang Thái để xin được học về nghề y.

Hoa Đà nghe lời mẹ, đi vào trong nội thành để tìm gặp thầy lang là bạn của cha và nêu rõ ý nguyện của mình. Khi gặp Hoa Đà, thầy lang thầm nghĩ: “Cha của Hoa Đà là bạn thân của ta, nếu ta không nhận thì người ở quê hương làng xóm sẽ trách mắng ta là: Bạn vừa chết đã vội tuyệt giao, bất nghĩa với bạn bè. Nhưng nếu ta nhận, thì không biết cậu bé này có phải là hợp để học nghề y hay không. Tốt nhất ta nên khảo nghiệm cậu bé này một chút!”

Lúc ấy, thầy lang nhìn thấy mấy học trò của mình đang hái lá dâu ở trong sân nhưng không với tới được cành cao nhất, trèo cũng không được liền nói với Hoa Đà: “Con có thể nghĩ ra cách để hái những lá dâu ở trên cành cao nhất kia xuống được không?”

Hoa Đà nói: “Điều này thực sự quá dễ ạ!” 

Vừa nói dứt lời, Hoa Đà gọi một người mang đến cho mình một sợi dây thừng. Sau đó, cậu buộc một hòn đá nhỏ vào đầu dây rồi ném qua cành dâu kia, cành dâu bị hòn đá nặng đè xuống nên mọi người có thể dễ dàng hái được chúng.

Thầy lang lại nhìn thấy hai con dê đang húc nhau, mọi người xúm vào can ngăn mà không được, ông lại nói với Hoa Đà: “Con hãy tìm cách để hai con dê kia không húc nhau nữa xem!”

Hoa Đà nhanh nhảu trả lời: “Điều này cũng không khó!” Nói rồi, Hoa Đà đi vòng quanh gốc dâu mà lấy được hai nắm cỏ xanh mướt đem đến để trước mặt hai con dê kia. Hai con dê sau một hồi húc nhau đã mệt lại đói nên vừa nhìn thấy nắm cỏ non liền rời nhau ra.

Thầy lang sau hai lần thử thách đã nhận ra Hoa Đà là cậu bé chịu suy nghĩ, thông minh, nhanh trí hơn người nên lập tức vui vẻ thu nhận làm học trò của mình.

Nhìn sắc mặt, bắt mạch là có thể trị khỏi bệnh
Hoa Đà có thể dựa vào việc xem sắc mặt, biểu hiện bên ngoài của người bệnh mà chẩn đoán bệnh và đưa ra cách chữa trị chuẩn xác. Những ví dụ về điều này cũng được sử sách ghi chép lại rất nhiều.

Một lần, Hoa Đà gặp một người đẩy xe có sắc mặt khô vàng, thở gấp, bệnh tình rất nặng. Sau khi tiến lại hỏi thì người này nói rằng bị đau quặn ở trong bụng. Hoa Đà lập tức kết luận người này đã bị viêm ruột thừa, cần phải kịp thời phẫu thuật.

Ngay sau đó, Hoa Đà cho người bệnh uống “ma phí tán” để gây mê rồi ông dùng con dao mổ nhỏ mổ bụng người bệnh ra và cắt đi phần ruột đã bị loét.

Sau khi đã phẫu thuật xong, làm sạch vết thương, ông khâu bụng lại và thoa lên vết thương một loại thuốc mỡ chống viêm. Mấy ngày sau, vết thương rất nhanh đã lành lại và người bệnh cũng khôi phục bình thường.

Trong cuốn sách “Hậu Hán Thư” có đoạn kể rằng, vợ của Lý tướng quân bị bệnh, nên gia đình họ liền mời Hoa Đà đến khám và chữa trị. Hoa Đà sau khi bắt mạch, nói: “Phu nhân là bởi vì đã bị thương trong thời kỳ mang thai, thai nhi bị chết nhưng chưa thoát ra ngoài được nên mới bị bệnh.”

Lý tướng quân nghe Hoa Đà chẩn đoán như vậy liền nói: “Trong thời gian mang thai, quả thực phu nhân tôi đã bị thương, nhưng mà thai nhi thì đã thoát ra ngoài rồi.”

Hoa Đà vẫn kiên trì nói: “Từ mạch đập mà chẩn đoán thì thai nhi vẫn là chưa thoát ra ngoài.”

Lý tướng quân vẫn một mực khăng khăng cho rằng lời Hoa Đà nói là không đúng.

Một trăm ngày sau, bệnh tình của vợ Lý tướng quân chuyển sang trầm trọng hơn. Lý tướng quân lại cho người mời Hoa Đà đến khám bệnh.

Sau khi bắt mạch một lúc, Hoa Đà nói: “Mạch vẫn như lúc trước, vốn là do lần đầu tiên phu nhân mang song thai, nhưng sinh non nên bị mất quá nhiều máu. Cũng vì thế mà thai sau, phu nhân cũng không sinh ra được. Hiện giờ thai nhi này đã chết mà không thoát ra ngoài.”

Sau khi chẩn đoán xong, Hoa Đà châm cứu cho vợ của Lý tướng quân, đồng thời cho bà uống thuốc. Một lát sau, vợ của Lý tướng quân đau đẻ nhưng lại không sinh ra được. Hoa Đà bèn nói: “Đây là thai nhi đã bị chết và khô rồi cho nên không thể sinh tự nhiên ra được, mà phải dựa vào cách nhờ người lấy ra.” 

Sau đó, một người phụ nữ khác đã làm theo cách chỉ bảo của Hoa Đà và lấy ra được thai nhi kia. Vợ của Lý tướng quân nhờ đó mà phục hồi được sức khỏe.

Không màng danh lợi, một lòng tạo phúc cho dân chúng
Hoa Đà bởi vì có y thuật cao siêu nên chẳng bao lâu mà danh tiếng của ông lan xa khắp vùng. Tào Tháo là người cùng quê với Hoa Đà, khi ấy thường hay bị căn bệnh đau đầu quái lạ hành hạ, dù đã rất nhiều lần mời thầy thuốc giỏi về chữa trị nhưng cũng không khỏi. Sau khi nghe danh tiếng về y thuật cao siêu của Hoa Đà nên đã cho mời ông về trị bệnh. Hoa Đà chỉ châm một kim thì bệnh đau đầu của Tào Tháo đã biến mất.

Tào Tháo sợ bệnh đau đầu của mình lại tái phát nên đã ép buộc Hoa Đà phải ở lại Hứa Xương để chữa bệnh cho mình và cấp cho Hoa Đà một người hầu.

Nhưng Hoa Đà bản tính thanh cao, không muốn bị ràng buộc vào công danh lợi lộc, cũng không muốn làm một thầy y chỉ phục vụ cho một người mà muốn trị bệnh cho dân chúng. Vì thế, Hoa Đà liền từ chối, nói rằng muốn trở về quê để tìm thuốc. Nhưng từ khi đi, Hoa Đà không quay trở lại nơi ấy nữa.

Tào Tháo nhiều lần viết thư yêu cầu ông quay trở lại, cũng đồng thời phái quan lại địa phương đến tận nơi thúc ép nhưng Hoa Đà vẫn một mực từ chối. Ông còn nói rằng vợ đang bị bệnh nặng, không thể trở lại bên Tào Tháo để từ chối.

Tào Tháo vì thế mà giận dữ, phái người đặc biệt đến nhà Hoa Đà điều tra. Tào Tháo nói với người đi điều tra rằng: “Nếu như vợ của Hoa Đà thực sự bị bệnh, thì hãy cấp cho họ 400 đấu đậu đỏ và gia hạn thêm thời gian, còn nếu như là giả dối thì bắt về trị tội.”

Không lâu sau, Hoa Đà bị dẫn về Hứa Xương trị bệnh cho Tào Tháo. Lúc ấy Tào Tháo đang giữ chức thừa tướng. Lần này, sau khi chẩn đoán bệnh xong, Hoa Đà đã nói: “Bệnh của thừa tướng lúc này thực sự đã rất nghiêm trọng, không thể châm cứu là có thể khỏi được. Tôi nghĩ, trước tiên ngài cần uống ma phí tán, sau đó phải tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối u trong não thì mới trị được hết bệnh này.”

Tào Tháo vừa nghe những lời này của Hoa Đà thì giận dữ, chỉ tay và Hoa Đà, lớn tiếng trách mắng: “Đầu mổ ra rồi, người còn có thể sống sao?”

Tào Tháo không tin lời Hoa Đà, cho rằng Hoa Đà muốn âm mưu hại mình nên đã ra lệnh bắt giam Hoa Đà lại chờ xử tử. Trước khi chết, Hoa Đà đã ở trong ngục, chỉnh lý lại cuốn sách y học “Thanh nang kinh”, giao cho người đứng đầu nhà tù và nói: “Cuốn sách này truyền lại cho đời sau, có thể cứu được muôn dân trăm họ trong thiên hạ.” Nhưng người này vì quá sợ hãi nên một mực từ chối, không dám nhận. Hoa Đà đành phải nén nỗi đau, dùng lửa đốt cuốn sách quý ấy.
Về sau, khi Tào Tháo bị bệnh, lại tìm đến Hoa Đà thì Hoa Đà đã chết rồi. Cuối cùng Tào Tháo cũng vì bệnh này mà chết.


Chân dung thần y Hoa Đà. Ảnh: Xuehua.

'Thần y' Hoa Đà, thầy thuốc đầu tiên phẫu thuật gây mê 

Được mệnh danh là một trong tứ đại danh y Trung Quốc, Hoa Đà là "thần y" tiếng tăm lẫy lừng từ cuối thời Đông Hán Trung Quốc với những cống hiến vĩ đại cho nền y học cổ truyền. Đặc biệt, ông còn được coi là thầy thuốc đầu tiên thực hiện phương pháp phẫu thuật gây mê.


Hoa Đà xuất thân từ một gia đình nghèo thời Đông Hán. Ông rất hứng thú với y học và dành cả đời hành nghề chữa bệnh cứu giúp nhân dân. 
Với kiến thức y học tinh thông, Hoa Đà đã tìm ra những phương thuốc, bí quyết quý giá cho người đời như Ngũ Cầm Hí và Ma Phí Tán, loại thuốc giúp tạo ra phương pháp phẫu thuật gây mê.
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, có truyện Quan Công khi đánh Phán Thành bị trúng độc ở cánh tay. Do độc tố quá mạnh, Hoa Đà phải mổ vào tới xương Quan Công. Tuy nhiên, phần xương đã chuyển xanh, cần cạo bỏ mà khi ấy không hề có thuốc giảm đau hay thuốc tê.
Trước tình hình này, Hoa Đà đã dành nhiều ngày nghiên cứu và chế ra Ma Phí Tán. Uống thuốc này hòa với rượu, bệnh nhân sẽ hôn mê trong quá trình phẫu thuật, giúp ca mổ diễn ra thuận lợi.
Ma Phí Tán đặc biệt hữu hiệu đối với các trường hợp cần đại phẫu như loại bỏ khối u, khâu dạ dày. Thành phần chính của thuốc gồm thảo ô, đương quy, nam tinh.
Sau này, y học phương Tây cũng chế tạo ra một số loại thuốc mê phục vụ phẫu thuật như thuốc phiện, chloroform. 
Với bài thuốc Ma Phí Tán từ gần 2.000 năm trước, Hoa Đà trở thành người đầu tiên thực hiện phương pháp phẫu thuật gây mê.

Image result for thần y hoa đà

THƯƠNG TIẾC CA SĨ THÁI THANH ( Trầm Vân )


THƯƠNG TIẾC CA SĨ THÁI THANH

Đau lòng người ái mộ rồi
Thái Thanh ca sĩ đã rời thế gian
Thân bằng quyến thuộc bàng hoàng
Người đi tiếng hát giọng vàng về đâu

Tiếng ca người vỗ đêm thâu
Hát cho tình lượn nỗi sầu tơ duyên
Tiếng ca xúc động con tim
Hát cho những giọt lệ mềm chia ly

Nghìn Trùng Xa Cách người đi
Tìm Nhau trong mộng buồn tê tái lòng
Cơn Mê Chiều gội bão giông
Ngày Xưa Hoàng Thị gót hồng ai buông...

Tình Ca vọng tiếng quê hương
Buồn Tàn Thu gợi nỗi buồn lá rơi
Mộng Du nghiêng nỗi nhớ người
Biệt Ly Bến Cũ đò ơi xa dòng...

Đâu rồi giọt hát thong dong
Vượt thời gian gió bềnh bồng phiêu du
Người đi đau giọt lệ mờ
Tháng Ba sóng vỡ đôi bờ hoang mang

Nỗi buồn rụng cánh hoa vàng
Lòng đau thắp vội nén nhang nguyện cầu
Vĩnh Hằng hồn lượn về mau
Cõi trời cực lạc nhiệm màu an vui

Tiếng ca bỏ lại cho đời
Bao người đau xót ngậm ngùi tiếc thương

Trầm Vân 

Image result for Ca Sĩ Thái Thanh